Vấn đề khai thác từ cổ qua hệ thống từ điển và các văn bản chữ Nôm

  1. Khái niệm

Từ trước đến nay, từ cổ vẫn là một khái niệm khá thống nhất, tuy rằng được định danh có đôi chỗ xuất nhập khác nhau.

Năm 1975, Đào Duy Anh dùng khái niệm “từ xưa” trong cuốn Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến [tr.24-27] khi nghiên cứu bốn bài phú Nôm đời Trần và sách Khoá hư lục. Ông coi từ xưa là những từ “hiện nay không dùng nữa” [tr.25]. Theo ông, từ xưadụng (dùng), địch (cái sáo), huyền (cây đàn), hoặcma (mài), đố (ghét), sương (rương) v.v... [tr.28, 33]. Đào Duy Anh cũng đề cập đến loại từ cổ mà âm đọc của nó là âm có từ trước thời Đường: “Cóc là âm xưa của chữ giác (âm Hán Việt), thường dùng theo nghĩa là biết, có hàm ý giác ngộ: nếu mà  cóc, miễn cóc một lòng” [tr.25] hay “Về cách viết chữ Nôm thì cả thảy có 24 chữ là chữ Hán đọc theo âm xưa, như loài , vì, khoe, chầy v.v.”[tr.34]. Đào Duy Anh cũng đã đề cập đến khả năng kết hợp của từ: “trong các từ xưa đáng chú ý nhất là từ vỉ. Ngày sau người ta chỉ dùng từ kép van vỉ chứ không dùng vỉ làm từ đơn, mà trong bài này thì ngoài từ kép vỉ khócvan khóc thì có mấy chỗ dùng từ vỉ làm từ đơn, như trong các nhóm từ chốn vỉ chốn kêu, đứa vỉ đứa kêu.”[tr.35] Cuối cùng, ông cũng coi một số từ theo phong cách giải âm là các từ cổ: “đến như những chữ giải là hợp, mặc, giải là thông thì đó là những từ đặc biệt thấy thường dùng trong Truyền kỳ mạn lục giải âm mà các sách đời sau thì hiếm.” [tr.38] gồm hai loại: từ đơn và từ kép. Ngoài ra ông cũng coi các từ Hán đơn âm trong các văn bản cổ là một loại từ cổ: “trong số những từ xưa còn nên kể những từ đơn mượn ở chữ Hán (âm Hán Việt) để biểu hiện những khái niệm mà đời sau người ta chỉ dùng những từ Việt để biểu hiện thôi”. [tr.28]. Ông đưa ra một số ví dụ như: (sai nhầm), tương đương với giải là

Học giả Hoàng Xuân Hãn viết: “từ ngữ cổ là những từ ngày nay không dùng nữa, hoặc còn dùng trong một địa phương, hoặc còn sót lại trong một thành ngữ nào đó, hoặc còn dùng với nghĩa khác nhưng có liên can…” [tr.1091]. Cũng như Đào Duy Anh, ông coi “… một số từ Hán, nay không còn dùng cô độc nữa, cũng sẽ kể vào từ cổ”
[tr.1091] như các từ tộ (phù trợ phúc vận) [tr.1109], già (chùa) [tr.1110],
duộc (cái môi) [tr.1105], quốc (nước) [tr.1108].

Năm 1984, Nguyễn Thiện Giáp viết: “từ ngữ cổ là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt hiện nay có các từ đồng nghĩa tương ứng. Chính sự xuất hiện của những từ đồng nghĩa tương ứng này làm cho chúng trở nên lỗi thời.” Gồm hai loại: những từ ngữ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại; những từ ngữ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa [tr.328-333].

Năm 1984, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong cuốn Truyện Song Tinh-khảo đính, phiên âm, chú thích cũng đưa ra quan niệm về từ cổ. Bà đặt từ cổ trong mối quan hệ với từ địa phương: “từ cổ ở đây được hiểu một cách tổng quát là những từ có âm, nghĩa và cách đặt câu hơi khác hoặc khác hẳn các từ hoặc cách dùng thông dụng hiện nay. Trong trường hợp những từ cổ hoặc từ còn được lưu hành ở một vùng nhất định thì gọi đó là từ địa phương.” Đóng góp của Nguyễn Thị Thanh Xuân ở chỗ bà là người đầu tiên đề cập đến các phương diện nội tại của một từ cổ, bao gồm ba diện: âm, nghĩa và “cách đặt câu” (tức khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của từ). Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ đề cập một chiều mối quan hệ giữa hai đối tượng từ cổ và từ địa phương. Về thực chất, hai khái niệm này không toàn toàn trùng khít về nội hàm cũng như ngoại diên. Chỉ có một số từ cổ được lưu hành trong vốn từ của một địa phương nào đó, nhưng không phải bất cứ từ địa phương nào cũng là từ cổ. Nếu là một từ địa phương, thì có nghĩa là từ cổ đó vẫn đang hiện dụng trong một cộng đồng ngôn ngữ nào đó, nhưng đã biến mất khỏi ngôn ngữ của cả vùng/khu vực rộng lớn hơn. Và như thế, đặc trưng nội hàm cơ bản nhất của từ cổ- “tính không hiện hành” là một khái niệm khá co dãn và linh động. Để biểu diễn mối quan hệ giữa hai khái niệm này có lẽ dùng hai vòng tròn hình học cắt nhau là hợp lý hơn cả. Dĩ nhiên, một quốc gia có bao nhiêu phương ngữ thì cũng có thể thêm bấy nhiêu vòng tròn giao cắt, và việc xác định các yếu tố ngoại diên cụ thể để chứng minh cho đồ hình này là một việc làm không đơn giản.

Vương Lộc: “Từ ngữ cổ là những từ ngữ: 1. Chỉ còn gặp trong các tác phẩm cổ chứ không tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, như bợ là “vay”, khứng là “chịu”, mắng là “nghe”, v.v... ; 2. Gặp trong tiếng Việt hiện đại những đã thay đổi ít nhiều về mặt ngữ âm, như khách thứakhách khứa, bàn nàn thành phàn nàn, đam thành đem, v.v ; 3. Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ do chúng không còn dùng độc lập nữa, như han trong hỏi han, tác trong tuổi tác, le trong song le, v.v hoặc đã thay đổi hoàn toàn về ý nghĩa như đăm chiêu không phải là “bên phải, bên trái, các phía”, lịch sự không phải là “từng trải”, vốn là nghĩa cổ của các từ này; 4. Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng khả năng kết hợp có khác so với ngày trước như ban trong các tổ hợp ban già, ban muộn, ban nghèo, ban tà, v.v...; cái trong cái rắn, cái ve, cái vẹt, v.v...; con trong con gậy, con lều, con sách, v.v...  ” [Lời nói đầu].

GS. Nguyễn Ngọc San cho rằng từ cổ “là những từ đã được lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn bản miệng cổ (ca dao, tục ngữ) mà hiện nay không còn được sử dụng nữa…”[187]. Bao gồm: các từ cổ đã hoàn toàn biến mất trong kho từ vựng hiện đại; hay là từ vốn là “những yếu tố mất nghĩa khi chúng nằm trong các tổ hợp song tiết đẳng lập và được xác định giá trị trong mối tương quan với yếu tố kia [NNS 188-195]; trong cuốn Từ điển từ Việt cổ, giáo sư  coi từ Việt cổ là những từ ngữ thuần Việt.

Nguyễn Thanh Tùng chia từ cổ làm sáu loại: 1.Những từ xưa được dùng độc lập, nay chỉ tồn tại như là yếu tố mất nghĩa, mờ nghĩa trong các tổ hợp từ như dể, ghẽ, rệt; 2. Những từ đã biến mất hoàn toàn trong kho từ vựng hiện đại, không còn được sử dụng nữa, chỉ tồn tại trong các văn bản cổ, như: mựa, bui, cày cạy; 3. Những từ chỉ còn dùng hạn chế trong các phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, thuật ngữ, như rồi trong ăn không ngồi rồi; 4. Những từ xưa là song tiết, nay đã rụng mất tiền tố, chỉ còn đơn tiết, như: la đá, bà cóc; 5. Những từ Hán xưa dùng độc lập nay không dùng độc lập nữa mà chỉ là những yếu tố Hán Việt dùng để cấu tạo từ; 6. Những từ còn xuất hiện nguyên dạng, nhưng nghĩa cũ đã mất, nay dùng theo nghĩa mới khác với nghĩa cũ, như: cặn kẽ (ân cần chu đáo/ sát sao, tỉ mỉ).

Như vậy có thể thấy, Đào Duy Anh dùng khái niệm từ xưa, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thiện Giáp, Vương Lộc dùng khái niệm từ ngữ cổ; Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện, Nguyễn Thanh Tùng dùng khái niệm từ cổ, hay từ Việt cổ.

Gần đây, năm 2002, trên Thế giới mới có nảy ra cuộc tranh luận giữa Bùi Thiết và An Chi về vấn đề từ cổ và từ Cổ Hán Việt. Bùi Thiết cho rằng từ cổ là những từ thuần Việt được sử dụng hàng ngàn năm trở lại đây như: (soát), rác (rưởi), rạn (nứt), rátăn (…). Ăn là cái xảy ra từ khởi thủy, nên phải là từ Việt cổ chứ, nếu mới sinh ra thì từ bao giờ vậy?” [Bùi Thiết 2002b: 92] An Chi đã bác bỏ những ý kiến chủ quan “không có kiến thức ngữ học đại cương”  trên, rằng Bùi Thiết “không phân biệt được hai khái niệm ‘Việt cổ’ và ‘thuần Việt’ nên đánh đánh đồng hai thứ này với nhau” [An Chi 2004:584]. An Chi quan niệm “…từ Việt cổ là những từ nay không còn dùng nữa, thí dụ: áng (= đám), bời (= nhiều), cái (= mẹ), đồng (= gương), v.v. An Chi cũng đã trích dẫn một số định nghĩa của giới ngữ học quốc tế về từ cổ. “Từ cổ (Anh: archaism, Pháp: archaïsme) là “a form no longer in current use”, nghĩa là “một hình thái không còn hiện dụng nữa’” [Mario Pei. 1996. Glossary of Linguistic Terminology. New York]; “no longer in general circulation” [R.E.Asher. 1994. The Encyclopedia of Language and Linguistic (10 vols). Pergamon Press. 5.644 pp]. (cổ)… [Bùi 2002a]. Ông viết: “Chẳng hạn từ

Chúng tôi quan niệm từ cổ là những từ chỉ xuất hiện trong các văn bản Nôm hay quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX trở về trước. Từ cổ là những từ người hiện nay không thể hiểu được nếu không sử dụng các loại từ điển để tra cứu, hoặc không đối chiếu với nguyên tác Hán văn (với những trường hợp giải âm, giải nghĩa), từ cổ có thể có nguồn gốc khác nhau (thuần Việt, thuần Hán hay giao thoa Hán- Việt). Theo ba mặt nghĩa, âm và khả năng kết hợp, từ Việt cổ có thể chia làm 3 loại [cụ thể xem Trần Trọng Dương 2006, 2007]. Tuy nhiên, bài viết này nhằm mục đích nêu ra những phạm vi tư liệu mà từ cổ tồn tại, bao gồm các từ điển cổ, các từ điển từ cổ và các tác phẩm chữ Nôm.

TOÀN VĂN BÀI VIẾT XIN XEM FILE ĐÍNH KÈM

Attachments:
FileDescriptionFile sizeCreatedLast modified
Download this file (T.T.Duong 98.pdf)Vấn đề khai thác từ cổ... 306 kB2010-06-20 07:252010-06-20 07:25
Top