Những lỗi dịch nghĩa trong bản dịch lời tựa sách Thọ Mai Gia Lễ

NHỮNG LỖI DỊCH NGHĨA TRONG BẢN DỊCH LỜI TỰA SÁCH THỌ MAI GIA LỄ (BẢN DỊCH DO NXB HÀ NỘI PHÁT HÀNH NĂM 2009)

Người viết: Vũ Việt Bằng


"Thọ mai gia lễ là gia lễ nước ta, có dựa theo Chu Công gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc nhưng không rập khuôn theo Tầu. Mặc dầu gia lễ từ triều Lê đến nay có nhiều chỗ đã lỗi thời nhưng khi đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, nên đến nay trong Nam ngoài Bắc vẫn còn phổ biến áp dụng, nhất là tang lễ.

Tác giả của Thọ mai gia lễ là Hồ Sỹ Tân (1690-1760) hiệu Thọ Mai người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1721 (năm thứ 2 triều Bảo Thái), làm quan đến Hàn lâm Thị chế"[i].

Tuy rằng, khi viết sách Thọ Mai gia lễ, tác giả chỉ muốn "phỏng theo chính thể của lễ mà cất nhắc những sự trọng yếu, cắt bỏ những việc phiền hà, để làm nghi thức trong nhà"[ii], nhưng trên thực tế sách Thọ Mai gia lễ đã được phổ cập ra toàn dân. Không những Thọ Mai gia lễ có giá trị lúc đương thời, mà sách này vẫn còn giá trị đến ngày hôm nay. Chính vì lẽ đó, sách Thọ Mai gia lễ đã nhiều lần được dịch ra quốc ngữ, và được đề cập rất nhiều ở trong các sách viết về phong tục. Gần đây, Nhà xuất bản Hà Nội có xuất bản bản dịch sách Thọ Mai gia lễ (nhóm biên dịch là Phan Hà Sơn và Trương Thị Thủy; nhóm hiệu đính là Đại đức Thích Minh Nghiêm và cư sĩ Đạo Liên). Về hình thức, đây là một bản in ấn cẩn thận, màu sắc bìa trang nhã, nhưng về nội dung bản dịch thì còn một số điều đáng bàn[iii]. Ở phạm vi bài viết này, tôi chỉ dám đề cập đến lỗi dịch nghĩa trong phần lời tựa, chứ không dám đề cập đến tất cả các lỗi sai trong toàn bản dịch.

1.      Phần chữ Hán và phiên âm Thọ Mai gia lễ tự trong sách Thọ Mai gia lễ [iv].

1.1. Phần chữ Hán.

壽梅家禮序

夫禮者天理之節文,人事之儀則.其為物大矣而家而國而天下何者非禮以為用哉.古者先賢制禮,冠婚喪祭靡不備具刻行于世.其中,言可為法行可為則,皆有可考.惟喪禮一事世人之所常行,乃節次浩繁,儀文深密.臨時倉卒未盡周知.故於納涼亭講讀之暇,參質諸書,依襲古禮,斟酌損益敷演國音,及各節祭文對聯從宜增補書成顏曰壽梅家禮.其所著本非率意必倣乎禮之正體而舉要刪煩以為自家之儀式.豈敢公於世用耶.惟不相疑異苟且行焉可也.欲禮文郁郁鉅細靡遺則朱文胡尚書紙上有餘師矣.知禮君子幸勿以簡約見笑焉.是為序.

海上唐中鴻臚寺序班壽梅居士胡嘉賓集撰 .

1.2.           Phần phiên âm.

Thọ Mai gia lễ tự.

Phù lễ giả thiên lí chi tiết văn, nhân sự chi nghi tắc. Kì vi vật đại hĩ, nhi gia nhi quốc nhi thiên hạ hà giả phi lễ dĩ vi dụng tai. Cổ giả tiên hiền chế lễ, quan hôn tang tế mị bất bị cụ khăc hành vu thế. Kì trung ngôn khả vi pháp, hành khả vi tắc, giai hữu khả khảo. Duy tang lễ nhất sự thế nhân chi sở thường hành nãi tiết thứ hạo phồn, nghi văn thâm mật, lâm thời thảng thốt vị tận chu tri. Cố ư nạp lương đình giảng độc chi hà tham chất chư thư, y tập cổ lễ, châm chước tổn ích phu diễn quốc âm, cập các tiết tế văn, đối liên tòng nghi nghi tăng bổ thư thành nhan viết Thọ Mai gia lễ. Kì sở trước bản phi suất ý, tất phỏng hồ lễ chi chính thể nhi cử yếu san phiền dĩ vi tự gia chi nghi thức, khải cảm công ư thế dụng da. Duy bất tương nghi dị cẩu thả hành yên khả dã. Như dục lễ văn úc úc cự tế mị di tắc Chu Văn, Hồ thượng chư thư chỉ thượng hữu dư sư hĩ. Tri lễ quân tử hạnh vật dĩ giản ước kiến tiếu yên. Thị vi tự.

Hải thượng đường trung Hồng Lô tự tự ban Thọ Mai cư sĩ Hồ Gia Tân tập soạn.

2. Lỗi dịch nghĩa trong bản dịch phần lời tựa.

Câu phù lễ giả thiên hạ chi tiêt văn nhân sự chi nghi tắc nhóm biên dịch (NBD) dịch là "Ôi, cái gọi là Lễ là tiết văn của thiên lí, nghi thức của mọi sự về con người". Ở đây, chữ phù đứng đầu câu với chức năng là phát ngữ từ, ta không nên dịch là "ôi"; chữ lễ cũng không nên dịch là "cái gọi là lễ", mà chỉ nên dịch là "lễ là..." mà thôi. Ngoài ra, khi đã dịch vế trước là "tiết văn của thiên lí", thì vế sau ta nên dịch là "nghi tắc của nhân sự" cho lời dịch được hay hơn.

Câu nhi quốc nhi gia nhi thiên hạ hà giả phi lễ dĩ vi dụng NBD dịch là "mà cái gọi là "gia" "quốc" "thiên hạ" không cái gì không dùng đến lễ". Ở câu này, ta cũng không nên dịch là "cái gọi là "gia" "quốc" "thiên hạ", mà đây là một cấu trúc nhi... nhi... (có thể dịch là "từ... đến..."; nhi gia nhi quốc nhi thiên hạ nên dịch là "từ gia đến quốc đến thiên hạ").

Hai câu cổ giả tiên hiền chế lễ, quan hôn tang tế mị bất bị cụ khắc hành vu thế. Kì trung ngôn khả vi pháp hành khả vi tắc, giai hữu khả khảo NBD đã ghép làm một mà dịch là "từ xưa, các bậc tiên hiền đã chế ra lễ quan, tang tế đã có nhưng không được đầy đủ, nên đó khắc vào để làm phép tắc mà thi hành, để cho tất cả có thể khảo cứu". Đối với câu này, theo tôi nên dịch là "xưa, các bậc tiên hiền chế định ra lễ, quan lễ; hôn lễ; tang lễ; tế lễ chẳng có gì là không đầy đủ san khắc lưu hành ở đời. Trong đó, lời nói có thể làm khuôn phép; hành động có thể làm chuẩn tắc, chúng đều có cái đáng để khảo cứu". Ở hai câu này NBD đã dịch sai những chỗ sau: 1. có lẽ do ngắt câu sai thành cổ giả tiên hiền chế lễ quan / hôn tang tế mà NBD đã dịch nhầm thành "từ xưa, các bậc tiên hiền đã chế ra lễ quan, tang tế..."; 2. quan hôn tang tế mị bất bị NBD dịch là "tang tế đã có nhưng không được đầy đủ" là hoàn toàn sai; 3. đoạn khắc hành vu thế được NBD ghép vào câu kì trung ngôn khả vi pháp... (nhẽ ra phải ghép vào câu trước), có lẽ do ngắt câu như thế nên NBD đã dịch sai thành "...nên đó khắc vào để làm phép tắc..."; 4. ngôn khả vi pháp, hành khả vi tắc, giai hữu khả khảo NBD dịch là "để làm phép tắc mà thi hành, để cho tất cả có thể khảo cứu" cũng không được chính xác.

Câu tiết thứ hạo phồn, nghi văn thâm mật, lâm thời thảng thốt vị tận chu tri NBD dịch là "các tiết thứ phức tạp, khó hiểu chưa được tường tận" là chưa chính xác cho lắm, ta nên dịch là "tiết thứ bề bộn, hình thức nghi thức sâu kín, đến lúc vội vàng mà (xử lí công việc) chưa được biết trọn vẹn".

Đoạn châm chước tổn ích NBD dịch là "châm chước những tổn hại và lợi ích". Ở đây, NBD đã hiểu sai nghĩa của hai từ châm chướctổn ích. Đối với từ châm chước, theo Phan Văn Các: "châm chước: 1. thêm bớt, điều hòa cho vừa phải... ; 2. bớt khắt khe và tha thứ..."[v]. Ở đây, có lẽ NBD đã hiểu nhầm từ châm chước theo nghĩa thứ hai. Đối với từ tổn ích, Từ nguyên dịch là "gia giảm, cải động" (Luận ngữ, Vi chính: "Tử viết Ân nhân ư hạ lễ sở tổn ích khả tri dã, Chu nhân ư Ân lễ sở tổn ích khả tri dã"); theo Đào Duy Anh: "tổn ích: ... bớt phần người dưới thêm cho phần người trên gọi là tổn, bớt phần người trên giúp cho người dưới gọi là ích"[vi], vì thế ta nên hiểu tổn ích là sự "chọn lọc thêm bớt hợp lí" chứ không nên hiểu là "tổn hại và lợi ích". Châm chước tổn ích nên dịch là "thêm bớt chọn lọc hợp lí".

Câu sở trước bản phi suất ý, tất phỏng hồ lễ chi chính thể nhi cử yếu san phiền dĩ vi tự gia chi nghi thức khải cảm công ư thế dụng da NBD dịch là "sở dĩ bản này chưa nói hết được ý chính thể của lễ, lễ là nghi thức của từng nhà, không dám tự ý dụng, không dám làm khác mọi nhà". Theo tôi, nên dịch câu này là "những điều được trình bày trên sách này (chỉ Thọ Mai gia lễ) không phải là noi theo ý riêng, tất phải dựa vào chính thể của lễ mà đề cất nhắc những sự cốt yếu, cắt bớt những việc phiền hà để làm nghi thức trong nhà mình, chứ há dám lan rộng chung ra cho người đời dùng".

Bài tựa còn các câu Duy bất tương nghi dị cẩu thả hành yên khả dã. Như dục lễ văn úc úc cự tế mị di tắc Chu Văn; Hồ thượng thư chỉ thượng hữu dư sư hĩ NBD không dịch các câu này mà còn để dấu ba chấm (...), tôi không hiểu dấu (...) mang ý nghĩa gì.

3. Dịch nghĩa Thọ Mai gia lễ tự (dịch nghĩa theo ý người viết, thay cho lời kết).

"Lễ là hình thức có tiết độ của lí trời, là chuẩn tắc cố định của việc người. Nó là thứ lớn lao thay, từ gia đến quốc đến thiên hạ chẳng có việc gì không lấy lễ làm dụng cả. Xưa, tiên hiền chế định ra lễ, quan lễ; hôn lễ; tang lễ; tế lễ chẳng có thứ nào không đầy đủ san khắc lưu hành ở đời. Trong đó, lời nói có thể làm khuôn phép, hành động có thể làm chuẩn tắc, chúng đều có cái đáng để khảo cứu. Duy có một việc tang lễ là sự thường hành của người đời, nhưng tiết thứ còn bề bộn, hình thức nghi tiết còn sâu kín, đến lúc xử lí công việc vội vàng mà chưa biết trọn vẹn. Cho nên nhân vào lúc nhàn rỗi đọc sách giảng cứu ở đình nạp lương (hóng gió), tham khảo nội dung các sách, y tập cổ lễ, gia giảm chọn lọc, diễn rộng ra quốc âm, cùng văn tế, câu đối các tiết tuỳ nghi bổ sung thêm thành sách, nhan đề là Thọ Mai gia lễ. Những gì được viết trên sách này vốn không phải là theo ý riêng, mà tất phải phỏng theo chính thể của lễ mà cất nhắc những sự cốt yếu, cắt bỏ những việc phiền hà, để làm nghi thức trong nhà mình, há dám lan rộng chung ra cho người đời dùng đây, duy chỉ không làm sai khác và thi hành cẩu thả là được rồi. Nếu như muốn hình thức nghi lễ được trang hoàng tỉ mỉ; không gì sai sót, thì những thứ được viết trong sách của Chu văn công (Văn Công gia lễ), của Hồ thượng thư (Hồ thượng thư gia lễ) đã đủ để làm thầy rồi. Người quân tử thông hiểu lễ giáo, hy vọng rằng đừng nên lấy sự giản ước mà bị chê cười"

Lời dịch trên là ý của riêng tôi, nên chắc chắn còn nhiều sai sót. Tôi rất mong được sự góp ý của những người học Hán Nôm và những người quan tâm đến Thọ Mai gia lễ, để cho ý tứ của tác giả sách Thọ Mai gia lễ được hiểu một cách chính xác hơn.



[i] Tân Việt: 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1993, tr.81.

[ii] Dịch từ Thọ Mai gia lễ tự trong sách Thọ Mai gia lễ, in năm Khải Định Đinh Tị (1917), Thịnh Văn đường tang bản, hiện lưu tại Thư  viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mã VHb.108.

[iii] Hiện tại, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 17 bản Thọ Mai gia lễ, tôi không biết nhóm biên dịch sách Thọ Mai gia lễ đã dịch theo bản nào, nhưng tôi vẫn tạm so sánh lời dịch với bản in năm Khải Định Đinh Tị (1917); mã VHb.108.

[iv] Trong bản dịch của NXB Hà Nội không có phần phiên âm.

[v] Phan Văn Các: Từ điển từ Hán Việt, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.74. Về nghĩa của từ châm chước, sách Hoàng Phê chủ biên: Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội, 1992, tr. 150 cũng giải thích: "1. Lấy ở chỗ này bỏ ở chỗ kia, thêm bớt cho vừa phải...; 2. Giảm nhẹ bớt yêu cầu vì chiếu cố đến hoàn cảnh cụ thể... 3. Chiếu cố mà tha thứ..."; Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển, NXB Khoa học xã hội, 2004, tr. 150 cho rằng: "châm chước: ... làm việc phải thương lượng, thêm đi bớt lại cho đúng".

[vi] Đào Duy Anh: sđd, 2004, tr. 308.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

I.                    Sách tiếng Hán.

1.    胡嘉賓 : 壽梅家禮 , 盛文堂藏板 , 啟定仲春吉日重刊  (1917).

2.    辭源, 商務印書館出版,  北京 , 1998

II.                 Sách tiếng Việt.

1.      Đào Duy Anh: Hán Việt từ điển, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.

2.      Hoàng Phê chủ biên: Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ, Hà Nội, 1992.

3.      Hồ Gia Tân: Thọ Mai gia lễ, Phan Hà Sơn dịch, NXB Hà Nội, Hà Nội, 2009.

4.      Phan Văn Các: Từ điển từ Hán Việt, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2001.

5.      Tân Việt: 100 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1993.

6.      Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, NXB Thanh Niên, 2006.

7.      Trần Văn Chánh: Từ điển hư từ Hán ngữ cổ đại và hiện đại, NXB Trẻ, 2005.


Top