Về việc dạy chữ Nho ở trường phổ thông

VỀ VIỆC DẠY CHỮ NHO Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG.

(bài viết chia làm 6 kì)

 

PHAN QUÝ BÍCH

(GV. Khoa Văn học)

 


Kỳ 1/6: Chữ nho ở trường Pháp – Việt

Cách đây hai năm, giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đề nghị ngành giáo dục nên dạy chữ nho cho học trò phổ thông (Chữ nho với nền văn hoá Việt nam, Văn nghệ, số 16; 29/4/2003). Đề nghị của ông xuất phát từ sự nhìn nhận về những đóng góp của chữ nho cho sự phát triển của tiếng Việt và nền văn hoá Việt hôm qua, hôm nay và ngày mai. Đề nghị của ông còn xuất phát từ kinh nghiệm của một trong những người Việt thành đạt nhất trong khoa học, của một nhà sư phạm có danh tiếng, của một thế hệ đã sinh ra nhiều trí thức tài giỏi, có công lớn với sự phát triển tiếng Việt và nền văn hoá dân tộc hiện đại. Ông cũng không phải là người duy nhất nêu ra đề nghị này. Tình trạng người Việt không thông tiếng Việt hoặc không hiểu được quá khứ (đơn giản như, không đọc được tên một ngôi đền chẳng hạn), thường bị xem là do không được học chữ nho ở trường phổ thông. Nhưng nên dạy chữ nho như thế nào cho con em?
Đây lại là một câu hỏi rất khó có câu trả lời cho thật thấu đáo, dù chỉ dưới khía cạnh thuần tuý chuyên môn, tức là không cần xét toàn bộ chương trình phổ thông, mà chỉ bàn về mục đích, yêu cầu, cũng như tri thức tối thiểu cần dạy về chữ nho mà thôi. Do đó, tôi chỉ xin nêu ra những băn khoăn trong việc trả lời câu hỏi đó, chứ không có tham vọng đưa ra những kiến giải cho một bài toán giáo dục phức tạp đến như vậy. Tôi suy nghĩ về câu hỏi này theo hai hướng: một là, sự thành công của thế hệ giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn có phải do việc dạy chữ nho ở học đường hay không và hai là, chữ nho có thể có vai trò gì đối với đời sống văn hoá của chúng ta hôm nay.
Theo hướng thứ nhất, chúng ta phải trở lại với trường Pháp – Việt. Khi tìm hiểu việc dạy văn trong nhà trường đó, nơi giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn được đào tạo, tôi đã rất chú ý đến việc dạy cổ học và chữ nho. Theo tôi biết, trường Pháp – Việt chọn tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Ngôn ngữ viết chính thức của người Việt lúc đó, trên nguyên tắc, là Pháp ngữ. Cho nên, ngay cả tiếng Việt dưới hình thức quốc ngữ cũng chỉ được dạy ở những năm đầu của bậc tiểu học và thu hẹp dần khi mà học sinh nghe, nói và viết được tiếng Pháp. Lên bậc trung học, chương trình Việt ngữ chỉ còn một, hai tiết một tuần. Ngoài một, hai tiết ấy ra, học sinh nghe giảng và thi cử bằng tiếng Pháp. Bài thi tú tài về Việt ngữ thường là một bài thi dịch, giảng, bình luận một văn bản Việt ngữ, trình bày bằng tiếng Pháp. Vào thời kỳ đầu, văn bản nguồn để thi Việt ngữ có thể là một trích đoạn bằng chữ nho đích thực, nhưng dần dần, do việc học chữ nho mai một, văn bản nguồn là quốc ngữ (văn nôm đã được chuyển tự sang quốc ngữ, thơ ca dân gian được ghi bằng quốc ngữ hay một sáng tác quốc ngữ đích thực). Vào những khoá thi tú tài ngay những năm trước Cách mạng Tháng Tám, như vào khoá thi của các ông Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Đình Thi chẳng hạn, chữ nho hình như đã hoàn toàn vắng mặt. Tôi không biết Huy Cận, Xuân Diệu, Hoài Thanh có đọc được chữ nho không, nhưng căn cứ vào trước tác của họ, thì tôi không dám chắc. Huy Cận cả quyết rằng, ông chỉ học thơ Đường, chứ không phải thơ Pháp, nhưng theo cách diễn giải của ông thì đó chỉ là thơ Đường trong các bản dịch ra Việt ngữ. Xuân Diệu đọc các nhà thơ cổ điển y như đọc các nhà thơ viết tiếng Pháp hay quốc ngữ. Hoài Thanh không thật tri âm với Hàn Mặc Tử và Đoàn Phú Tứ, hai nhà thơ chịu rất nhiều ân huệ của văn hoá cổ, dù ông rất yêu và trọng thị họ.
Những tư liệu mà chúng tôi vừa nêu trên đây có thể cho phép chúng ta khẳng định rằng, sự thành đạt của lớp trí thức Tây học, trong đó có thế hệ của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, không do vốn chữ nho được học ở trường phổ thông, vì chương trình cổ học và chữ nho của nhà trường đó rất sơ sài. Thật vậy, những người hoạch định chính sách giáo dục của Pháp lúc đầu còn không có ý định cho dạy nền cổ học Phương Đông mà định bắt học trò học Đông dương học nền cổ học Hy-La, như ở các trường phổ thông tại Pháp. Người đấu tranh quyết liệt nhất cho việc dạy nền cổ học Phương Đông trong nhà trường lúc đó là Phạm Quỳnh. Cuối cùng, một phương thức “hoà giải” được đưa ra: nền cổ học Phương Đông sẽ được dạy nhưng những giá trị nào của nền học đó được đưa ra dạy thì do người Pháp kiểm soát. Do đó, một số tác phẩm nôm của ta, nhất là của Lê Quý Đôn và Nguyễn Du, được đưa vào chương trình Việt văn, như ta có thể đọc trong các sách giáo khoa của Cordier và Dương Quảng Hàm. Phần Hán văn cũng như phần văn chương viết bằng chữ Hán của ta gần như vắng mặt. Những cuốn sách như Cổ học tinh hoa, Văn đàn bảo giám có lẽ đã được biên soạn để bù đắp những sự thiếu hụt đó, theo tinh thần bảo lưu tinh hoa quá khứ mà Văn minh tân học sách của Đông Kinh Nghĩa Thục đã thể hiện, nhưng những cuốn sách đó chỉ là những sáng kiến cá nhân chứ chưa bao giờ được xem là sách giáo khoa chính thức của trường Pháp – Việt.
Trong một chỉ thị về sách giáo khoa, viên quan chức đứng đầu ngành giáo dục của chính quyền thực dân lúc đó đã chỉ rõ là, chương trình  cổ học Phương Đông có mục đích khiến cho học sinh Việt thẩm định lại các giá trị truyền thống, cho đến tận trước tác của Khổng Tử. Như vậy, mục đích của nhà trường phổ thông là cho học sinh thấy những hạn chế của di sản văn hoá cổ của chúng ta, theo con mắt nhìn của Phương Tây và qua đó, khẳng định tính hơn hẳn của các giá trị văn hoá Phương Tây, nhất là, tính “hơn hẳn” của quốc ngữ so với chữ nho. Tuy nhiên, muốn dạy nền cổ học Phương Đông thì phải dạy chữ nho vì chữ nho chính là nền tảng của kho tàng tri thức đó, cả với tư cách là bộ ghi, cả với tư cách là một cách nhìn thế giới, một qui tắc tư duy. Cho nên, chữ nho hiện diện trong chương trình buổi đầu của trường Pháp – Việt. Nhưng trên thực tế, việc dạy chữ nho bấy giờ lại không xuất phát từ những toan tính khoa học. Khởi đầu, đó gần như chỉ là một chiêu lừa bịp.
Nhà trường có nhiều mục đích, nhưng một trong những mục đích của nó là đào tạo những rường cột tương lai cho tổ chức xã hội. Do đó, nó cần thu hút được nhiều học trò, nhất là con em trong các gia đình có truyền thống hiếu học. Mà với các gia đình hiếu học hồi đầu thế kỷ XX, thì không phải quốc ngữ mà chữ nho mới đáng trọng. Sau năm 1919, tức là sau năm mà chữ nho bị bỏ ở cả ba kỳ, các gia đình này vẫn còn tìm thấy lý do để con em của họ học chữ nho, đó là học để cúng ông bà. Chữ nho ra đời trong bói toán và gắn chặt với đời sống tín ngưỡng của người Việt cho đến tận hôm nay. Cho nên, nếu trường nào không dạy chữ nho thì rất vắng học trò. Tôi đã đọc báo cáo của một viên thanh tra người Pháp nói rõ về tình hình này và ông ta kiến nghị đưa việc dạy chữ nho vào tất cả các trường học, để thu hút học trò. Có lẽ vì thế mà việc dạy chữ nho được chú ý hơn, chứ không phải do một tính toán khoa học nghiêm túc. Vì vậy, tôi mới nói rằng, việc dạy chữ nho ở trường học mà giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn thụ giáo, đã khởi đầu gần như là một chiêu lừa bịp của nhà trường thực dân. Do nhà trường này không đặt ra yêu cầu dạy chữ nho lâu dài, nên không mở trường đào tạo giáo viên Hán-Nôm. Mỗi trường sẽ tìm đâu đó một ông đồ còn sót lại, và mời ông áo the, khăn xếp, đến dạy cho mỗi lớp một hai giờ mỗi tuần. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám, chữ nho đã gần như bị bỏ như trên kia chúng tôi đã nói. Chúng ta không cần biết thực chất vì sao những người hoạch định chính sách giáo dục thực dân không mặn mà với chữ nho, họ sợ cái truyền thống văn hoá được lưu giữ trong chữ nho hay họ xem chữ nho là vô ích, nhưng kết quả của việc dạy như thế thì chúng ta cần phải biết: không ai chỉ nhờ vào việc học chữ nho ở trường phổ thông mà có vốn Hán cổ đủ để thông Việt ngữ, chứ đừng nói đến để làm việc. Những người có vốn Hán cổ uyên thâm và sử dụng được vốn chữ nghĩa đó để làm văn hoá, như Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, cũng như bản thân giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, thường do nền giáo dục gia đình, hoặc do khả năng tự học. Một người cùng thế hệ với ông là Nguyễn Hiến Lê, đã cho biết trong hồi ký rằng, ông đọc được chữ nho là nhờ về quê thụ giáo người bác ruột trong vài dịp hè.  
Sở dĩ tôi cho rằng, nếu qui những thành công khoa học của lớp trí thức Tây học buổi đầu cho Việt ngữ cũng khó, chứ đừng nói đến vốn chữ nho được học ở trường của họ, vì trong các kỳ thi, môn thi mà họ bị điểm kém nhất thường là Việt ngữ. Một ông giám khảo cho môn Việt ngữ (người Pháp) đã kêu lên (trong một bài báo) rằng, ông không hiểu tại sao thí sinh người Việt lại hiểu tiếng mẹ đẻ của họ một cách kém cỏi đến như vậy! Mà kém là phải vì thứ nhất, do sự thay đổi văn tự và sự thay đổi này dẫn đến một thực tế là, khi một bản văn nôm đã được phiên ra quốc ngữ mà chỉ nhìn bản quốc ngữ thôi thì rất khó hiểu, như cụ Lê Thước từng than phiền. Điều này thì ai cũng thấy. Nếu không biết dạng thức viết của chữ nho thì ta không hiểu được ý đơn giản của bài thơ Không chồng mà chửa của Hồ Xuân Hương, là, chưa cưới chồng, sao cô đã mang bầu, cho dù đây đích thị là một bài thơ Nôm. Cho nên, ngày nay đọc Truyện Kiều, ta phải đọc chú thích với khối lượng văn bản gần ngang bằng khối lượng văn bản của chính văn. Thứ hai, do vị thế của chương trình. Ngày ấy, ở trường Pháp – Việt, tiếng Việt là sinh ngữ (bây giờ ta gọi là ngoại ngữ). Lúc đầu, tiếng Việt thậm chí là sinh ngữ thứ hai, sau tiếng Anh. Phải qua mấy lần cải cách, tiếng Việt mới được coi là sinh ngữ thứ nhất. Chúng ta không bàn ở đây khía cạnh thực dân hoá của đường lối giáo dục đó. Chúng ta chỉ xét hiệu quả của một chương trình đào tạo như vậy. Tôi không dám chắc là lớp trí thức Tây học buổi đầu có thể làm khoa học nhờ Việt ngữ, nếu không do tự học. Còn có một lý do thứ ba, khiến cho thí sinh thi tú tài thời trường Pháp – Việt kém Việt ngữ là, qui tắc phân tích văn bản mà người Pháp xây dựng bằng alphabet đã bị đem áp dụng khiên cưỡng cho việc diễn giảng văn bản bằng chữ nho, khiến cho học sinh người Việt không biết đâu mà lần. Văn chương cổ của ta đưa ra “thông điệp” bằng lối ám chỉ (nguồn gốc của biết bao nhiêu là án văn tự trong lịch sử), chứ không bằng lối ẩn dụ (trình bày một tư tưởng về hiện thực), như văn chương Phương Tây hay văn chương quốc ngữ của ta, vậy mà các bài thi cứ bắt học trò phân tích văn bản văn chương cổ theo lối phân tích ẩn dụ thì ai mà làm được! Đã kém tiếng Việt thì làm sao có thể dùng tiếng Việt mà suy nghĩ được. Tất nhiên, những chỗ kém này cũng là chỗ kém của nền cổ học Phương Đông do các trí thức thực dân tiến hành, chỗ kém mà nay ta còn thấy hiện diện trong một vài công trình khoa học hiện đại, do một sự tiếp thu thiếu phê phán.
Thế hệ của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã khiến người Pháp ở Đông dương tự hào về học trò của họ. Theo nhận định chung thì một người đỗ tú tài ở Việt Nam thời ấy thường có năng lực cao hơn một người đỗ tú tài ở chính quốc. Người Pháp cho rằng, sở dĩ như vậy là vì, các tú tài tại Việt Nam thông thạo hai nền văn hoá. Không ai có thể thông thạo nền văn hoá Việt chỉ với một chương trình đào tạo như thế. Những người thông thạo là do tự học. Nhưng ý thức về hai nền văn hoá thì đúng. Những người không có thiên hướng tự học để đi vào văn hoá cổ của dân tộc đến thành thạo thì chí ít cũng ý thức về sự khác biệt văn hoá để hiểu Phương Tây một cách sâu sắc hơn. Những chuyên gia văn hoá cổ của ta được đào tạo từ nhà trường đó cũng có những lợi thế tương tự. Trong một đôi lần được nghe giáo sư Đặng Thai Mai và giáo sư Cao Xuân Huy giảng bài, tôi thấy hai cụ thường nêu từ công cụ bằng tiếng Pháp hay bằng gốc chữ Hán trước khi giảng giải bằng tiếng Việt. Điều đó chứng tỏ rằng, lớp từ công cụ mà các cụ dùng không phải là lớp từ công cụ đã Việt hoá (với từ gốc Pháp) hoặc đã quốc ngữ hoá (với từ có gốc chữ nho). Đó là một lợi thế khoa học mà không phải mọi trí thức lớp sau đều có được, do vốn sinh ngữ và Hán cổ ngày càng ít được trau dồi.
Tóm lại, theo suy nghĩ của tôi, chữ nho và tri thức cổ đúng là cần cho chúng ta nhưng để trang bị những hiểu biết đó cho học trò hôm nay, chúng ta không thể tham khảo chương trình của trường Pháp – Việt. Thậm chí, tôi còn nghĩ rằng, chính nhà trường này đã “bắn vào quá khứ” của chúng ta bằng cách chỉ đề cao quốc ngữ, một luận điệu mà không ít người Việt sau này vẫn còn tin theo. Muốn dạy chữ nho cho con em, chúng ta phải suy nghĩ theo một hướng khác.


Kỳ 2/6: Nhìn lại bốn lý do dẫn tới việc đề xuất dạy chữ Nho

Muốn dạy chữ Nho cho học trò phổ thông hôm nay thì phải xác định được lý do và trên cơ sở đó, tìm ra cách thức giảng dạy. Vì hai vấn đề này qui định lẫn nhau. Chúng ta hãy điểm qua bốn lý do đã được nhiều người đưa ra.
1. Chữ Nho làm nên hơn một nghìn năm lịch sử thành văn của chúng ta. Di sản quá khứ, dù có diện mạo như thế nào, vẫn là di sản do cha ông để lại. Học chữ Nho là để hiểu lịch sử, hiểu cha ông, để không quên quá khứ và nhờ đó mà mỗi người sẽ sống tốt hơn cuộc sống của mình ngày hôm nay. Đó là một lý do để dạy chữ Nho cho học trò phổ thông. Học chữ Nho là để bảo tồn và thừa kế di sản.
Tuy nhiên, đã nói đến di sản thì cần phải phân biệt nhiệm vụ bảo tồn với nhiệm vụ thừa kế di sản. Mặc dù hai nhiệm vụ này liên quan với nhau, nhưng chúng không phải là một. Chúng liên quan đến nhau vì bảo tồn di sản cung cấp những khả năng thừa kế khác nhau cho các thế hệ, không bảo tồn thì không có chuyện thừa kế. Chúng khác nhau vì bảo tồn là gìn giữ di sản trong dạng thức vốn có của nó, còn thừa kế là khai thác cái phần di sản thích hợp với cuộc sống hiện tại. Bàn về việc dạy chữ Nho cho học trò phổ thông là bàn về việc thừa kế di sản. Mà vấn đề thừa kế di sản thì bao giờ cũng được hoạch định từ những điều kiện cụ thể-lịch sử của đời sống xã hội chứ không phải từ nguồn gốc của di sản.
Thật vậy, khi thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục, các cụ chỉ mong người Việt có chữ, mọi người Việt đều biết chữ, để chấn hưng công nghiệp, chế ra súng đạn, thức tỉnh về nỗi nhục của người dân mất nước, cùng nhau tranh lấy quyền độc lập. Vì thế, cụ Phan Châu Trinh còn sốt ruột với việc học Quốc ngữ, muốn học trò học ngay tiếng Pháp, vì tiếng Pháp lưu giữ một gia tài tri thức và tư tưởng mà chúng ta cần chiếm dụng để chống Pháp. Nghĩa là, dân ta phải có chữ dù đó là bất kỳ thứ chữ nào. Đọc các trước tác đầu thế kỷ trước, tôi nhận ra rằng, chính là khi ngắm cầu Paul Doumer (cầu Long Biên) và nhà hát thành phố, do người Pháp xây dựng, mà ý nghĩ bẻ bút lông, đoạn tuyệt với chi, hồ, giả, dã, đã đến với nhiều sĩ phu hồi đó. Quốc ngữ gắn với khát vọng duy tân và tự cường đầu thế kỷ trước. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá lúc đó đã khiến các cụ giành lấy nó bằng mọi giá.
Sau một thế kỷ và sau khi đã làm được nhiệm vụ mà Đông Kinh Nghĩa Thục đề ra, chúng ta lại đứng trước một câu hỏi, cũng không kém gay gắt so với câu hỏi của thời các cụ, và vẫn là câu hỏi về sự hùng mạnh của đất nước, nhưng lại gợi ý một sự lựa chọn ngược với sự lựa chọn của thời các cụ: thực tiễn cho thấy rằng, sự thành công của những con rồng châu Á là theo công thức: công nghệ Phương Tây + văn minh Hán hoá, mà văn minh Hán hoá lại do chữ Hán bảo tồn. Vậy thì việc chúng ta bỏ chữ Hán có thể là có hại. Vào thời điểm này, các xí nghiệp được tổ chức theo mô hình Nhật bản đang tỏ ra có lợi thế cạnh tranh hơn các xí nghiệp được xây dựng theo mô hình Phương Tây. Chữ Nho đối với thời mở cửa của chúng ta không còn đáng ruồng rẫy như thời Đông Kinh Nghĩa Thục nữa. Như vậy, hai thời đại khác nhau đã có thể gợi ý cho chúng ta hai cách ứng xử khác nhau với chữ Nho.
Cho nên, đã bàn về thừa kế thì không nên viện dẫn lý do bảo tồn. Chúng ta cũng không thể lấy nhiệm vụ bảo tồn di sản để hoạch định việc dạy chữ Nho cho học trò phổ thông còn vì bảo tồn di sản là một lĩnh vực chuyên môn, do những người có chuyên môn đảm nhiệm. Công việc ở các viện Hán-Nôm, Lưu trữ, các thư viện, cũng như công việc trùng tu các di tích, miếu mạo, chùa chiền, là công việc của các chuyên gia. Nó cần đến giáo dục chuyên nghiệp. Cách đây ba mươi năm, khi giúp giáo sư Đỗ Đức Hiểu tiến hành một số thủ tục hành chính để thành lập ngành Hán-Nôm ở khoa Văn, Đại học Tổng hợp, tôi đã nghe ông tâm sự rất nhiều về định hướng đào tạo: chúng ta sẽ có các lý thuyết gia về chữ Nho, các nhà cổ học hay sẽ có các ông đồ? Ông cho rằng, nếu đào tạo chuyên gia hôm nay mà lại giống hệt như đào tạo các ông đồ ngày xưa thì là thất bại. Nhưng cuối cùng, ông tự nhủ, hãy đào tạo những người đọc được chữ Nho đã, còn họ sẽ là người thế nào thì để nhu cầu của thực tế định đoạt vậy. Ông đã nghĩ đến công việc bảo tồn là trước hết. Vì thời gian là cấp bách. Những người biết chữ Nho ngày một ít đi, không mời ngay họ đến giảng đường, công việc mai sau sẽ khó. Bây giờ, mỗi năm, riêng ở trung tâm đào tạo này, ta có vài chục cử nhân Hán-Nôm ra trường. Với một khối lượng văn bản không quá đồ sộ mà đến 70% số sách còn giữ được là sách luyện thi (như một đồng nghiệp cho tôi biết), thì sự đầu tư như thế cho nhiệm vụ bảo tồn vốn cổ có thể xem là tạm được rồi. Chúng ta không lo đánh mất gia tài quá khứ. Chúng ta cũng không thể bắt mỗi người phải mang cả quá khứ lịch sử và văn hoá ở dạng thức nguyên sơ trong hành trang của người đó.
2. Khi suy nghĩ về thời hiện tại, chúng ta không thể không nhìn ra thế giới. Nền kinh tế hùng mạnh của “năm con rồng” khiến ta phải nhìn lại việc cha anh đã từ bỏ chữ Nho. Dạy chữ Nho là để lưu giữ truyền thống. Theo lý do đã được trình bày như vậy, dạy chữ Nho đi kèm với việc dạy những giá trị truyền thống cần phát huy.
Nhưng lại có ba lý do khiến cho chúng ta phải thận trọng trước bài học của “năm con rồng”. Một là, thực tiễn không phải bao giờ cũng diễn ra theo lôgic của tư duy, độ chân xác của mối liên hệ giữa chữ Nho với sự ưu việt của mô hình xí nghiệp Nhật bản cũng cần có thời gian mới kiểm nghiệm được. Vả lại, tôi nghe một số người nhận xét rằng, không phải mọi yếu tố của Khổng giáo đều nhạt ở ta, dù ta đã từ bỏ chữ Hán đến hàng thế kỷ, tuy có thể là cái mà ta giữ được lại không phải cái mà thiên hạ đã giữ hay muốn giữ. Vì vậy, lý do thứ hai khiến ta cần thận trọng là, khả năng ứng xử văn hoá ở mỗi dân tộc một khác. Thích ứng nhanh không phải bao giờ cũng là một lợi thế. Cải cách giáo dục trong vài thập niên gần đây có thể là một ví dụ. Tình trạng sùng bái hết mô hình này đến mô hình khác của thế giới đã chỉ có hại. Vì con phượng thì múa, con nghê thì chầu, cái mà người khác làm được thì chúng ta chưa chắc đã làm được. Và ngược lại. Cho nên, câu hỏi không chỉ là, làm gì là có lợi, mà còn là, liệu chúng ta có làm được điều người khác đã làm hay không. Ba là, để làm được như “năm con rồng”, chúng ta phải phục nguyên chữ Nho đến mức ai cũng đọc được văn bản cổ, hoặc chí ít thì cũng đọc được tên chùa chiền, hoành phi, câu đối, theo đề nghị của một vài người. Dùng hai văn tự không phải là không được vì điều này cũng xảy ra ở một vài nơi trên thế giới. Nhưng vì chữ Nho ở ta là gắn với văn ngôn, tức là vận hành theo những qui tắc diễn đạt và tư duy khác hẳn với những qui tắc diễn đạt và tư duy của Quóc ngữ, cho nên, trong trường hợp này, tôi không biết liệu sẽ là có lợi hay có hại khi mà chúng ta đào tạo học trò theo lối cài vào một máy tính cả hai hệ điều hành khác hẳn nhau mà trong thực tiễn đời sống, với số đông, sẽ chỉ có một hệ điều hành được sử dụng.
3. Dĩ nhiên,với đa số những người đã phát biểu ý kiến, đề nghị việc dạy chữ Nho là nhằm mục đích sử dụng tốt hơn Quốc ngữ, chứ không phải là phục nguyên một chữ viết. Chúng ta nên dạy chữ Nho để học trò nghĩ, nói và viết tiếng Việt hiện đại cho thành thục. Tôi muốn đề cập việc hiểu và viết tiếng Việt đã. Tôi xin bàn riêng về việc nghĩ bằng tiếng Việt. Tuy không thể tách diễn đạt với tư duy nhưng hiểu và viết trơn tru tiếng Việt khác với việc dùng tiếng Việt như một công cụ tư duy hiệu quả. Để nói và viết được tiếng Việt thông thạo, cách nghĩ thông thường là, vốn chữ Nho chiếm đến 70% vốn từ của tiếng Việt, nhất là vốn từ bác học, vậy thì nếu không nắm được chữ Nho đến một mức độ nào đó, khó mà sử dụng tốt được tiếng Việt. Nhất là một khi vốn từ vựng có gốc chữ Nho được “chuyên chở” bằng ký hiệu thị giác còn ở quốc ngữ là thanh âm. Không biết dạng thức viết của chữ Nho thường không hiểu được đúng nghĩa từ trong Quốc ngữ. Theo lý do đã được trình bày như vậy, dạy chữ Nho là dạy dạng thức hình nét của vốn từ hiện đại có gốc từ chữ Nho.
Nhưng lý do mà chúng ta vừa nêu dường như chỉ là trên lý thuyết. Trong thực tế, chúng ta vận dụng các từ theo nghĩa hiện đại của chúng, chứ không phải theo nghĩa từ nguyên của chúng. Hai tiếng tử tế trong tiếng Việt bây giờ nói lên lối cư xử đứng đắn, có tình, có lý, có trước, có sau, khác với nghĩa “nhỏ, bé” từ gốc Hán. Về mặt thanh âm, một số chuyên gia bảo rằng, nói nguỵ biện là sai, vì âm gốc của chữ Hán là quỷ biện. Nhưng biến âm là qui luật trong lịch sử ngôn ngữ, giống như việc ngày xưa chúng ta nói blời còn bây giờ thì chúng ta nói trời. Cho dù việc nói quỉ biện thành nguỵ biện có thể thực sự bắt nguồn từ một lầm lẫn, nhưng nếu nguỵ biện không làm cho người Việt hiện đại hiểu sai ý nghĩa mà nó truyền tải, thì cái sai này cũng không nhất thiết phải đính chính và cũng chưa chắc đã đính chính được, vì quyền xác lập chuẩn mực trong tiếng nói là quyền của số đông, chứ không phải bao giờ cũng là quyền của người uyên bác. Về mặt diễn đạt, tôi nhớ một ví dụ do nhà báo Quang Đạm nêu ra. Ông nổi tiếng là người cẩn trọng về chữ nghĩa và khi dạy chuyên đề báo chí cho chúng tôi, ông thường dặn, phải viết tiếng Việt cho chỉnh. Ví dụ, đừng có viết “chúng ta kiên trì giữ vững nền hoà bình” vì kiên trì trong Hán ngữ là tương đương với giữ vững trong Việt ngữ. Văn báo chí cần ngắn gọn, súc tích mà viết như thế là thừa. Nhưng tôi thấy cái thừa này cũng chấp nhận được, vì hình như tiếng Việt của ta ngày càng hình thức hoá về từ vựng và “kiên trì” ngày càng mang tính cách một trạng từ hơn là một động từ. Sự tồn tại song song cả chủ nghĩa xã hội và xã hội chủ nghĩa với sự phân biệt về loại từ (một cấu trúc mang tính cách danh từ, một cấu trúc mang tính cách tính từ) chứng minh điều đó. Vậy thì, không thể chỉ căn cứ vào gốc từ trong chữ nho, gốc cấu trúc chữ nho để làm chuẩn mực cho tiếng Việt hiện đại. Về những điều này, Nguyễn Hoà cũng đã đưa ra nhiều ví dụ với sự phân tích xác đáng(1).
Do đó, muốn hiểu và viết đúng tiếng Việt hiện đại thì cần phải tra từ điển tiếng Việt hiện đại, chứ không nhất thiết phải là tự điển Hán-Việt, nghĩa là không cần biết đến nghĩa gốc từ dạng thức viết của chữ Hán. Sở dĩ anh không hiểu được sự khác nhau giữa điểm yếu và yếu điểm là vì anh cẩu thả mà thôi. Thầy cô nào dạy văn chẳng giảng về sự khác nhau giữa hai từ đó, khi bắt gặp chúng trong bài giảng. Về mặt suy luận, ai chẳng biết hai từ ghép đó đảo trật tự các yếu tố tạo nên từ ghép mà trong tiếng Việt của ta thì trật tự là một biện pháp khu biệt ý nghĩa.
Dĩ nhiên, có những trường hợp mà nếu biết nghĩa gốc trong chữ Nho thì hiểu tiếng Việt hiện đại dễ hơn. Ví dụ, nếu biết gốc chữ Nho thì biết ngay “cộng hoà” chỉ một thể chế chính trị mà chính quyền là do phổ thông đầu phiếu bầu ra, biết “quá độ” vốn có nghĩa là bến đò và được dùng theo nghĩa bóng là một thời kỳ chuyển tiếp, biết “thực dân” không phải là “ăn dân(!)” mà là trồng dân, cấy dân. Chúng tôi nói rằng, việc biết chữ Nho chỉ giúp chúng ta dùng các từ này dễ dàng hơn chứ đó cũng không phải là bắt buộc. Chứng cớ là rất nhiều người không học lấy một chữ Nho mà viết tiếng Việt hiện đại rất chuẩn mực. Học sinh của chúng ta kém tiếng Việt, cũng như kém khả năng thực hành, ứng dụng tri thức, là do nhà trường của chúng ta đang dạy họ theo lối nhồi nhét, bắt họ nhập tâm, thừa nhận tri thức, chứ ít dạy họ suy nghĩ, tự phát hiện lại vốn tri thức được trang bị. Cho nên, họ không có thói quen tra từ điển tiếng Việt để hiểu tiếng Việt. Thêm nữa, Quốc ngữ cũng chưa hoàn chỉnh. Nhưng điều này chúng ta sẽ nói sau. Tóm lại, không phải vì chữ Nho chiếm đến 70% vốn từ vựng trong tiếng Việt hiện đại của ta mà ta cứ phải bắt con em học chữ Nho thì họ mới giỏi tiếng mẹ đẻ.
4. Chúng ta cũng có thể căn cứ vào sự ra đời của tiếng Việt hiện đại mà bàn về việc dạy chữ Nho cho con em. Tiếng Việt hiện đại, với tư cách là một ngôn ngữ bác học, chỉ ra đời với Cách mạng. Trong bước trưởng thành vượt bậc của nó, chữ Nho là một nguồn sáng tạo từ mới. Với lý do như vậy, dạy chữ Nho là tiếp tục phát triển Việt ngữ.
Thực tế là, chính nhờ Quốc ngữ mà tiếng Việt đã có thể trở thành một tiếng nói của văn hoá và khoa học kỹ thuật hiện đại trong một thời gian rất ngắn. Khi cụ Vũ Đình Hoè, nguyên bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của chính quyền Cách mạng, đề xuất quyết định dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ trong giáo dục ngay từ năm 1945, cụ Hồ còn hỏi lại: “Hay đấy. Nhưng sợ có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?” (2) vì Người lo lắng về khả năng chuyển tải tri thức của Việt ngữ lúc đó. Để tiếng Việt có thể làm chuyển ngữ trong giáo dục, nó phải đủ vốn từ công cụ. Vậy thì vốn từ công cụ của tiếng Việt đã hình thành như thế nào?
Về khoa học tự nhiên, cụ Hoàng Xuân Hãn là người đã tiến hành công việc đặt thuật ngữ tiếng Việt từ trước Cách mạng, nhờ vốn Hán ngữ cổ của cụ, khi cụ làm bộ trưởng trong chính quyền của Trần Trọng Kim. Về lĩnh vực văn chương và khoa học xã hội, từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh (có chua tiếng Pháp), cũng xuất bản từ trước Cách mạng, đã tổng kết những công trình dịch thuật từ Nam phong và từ nhiều tờ báo Việt ngữ khác (mà với các dịch giả này thì sách báo tân học của Trung Hoa và Nhật bản đương thời lại là nguồn tham khảo), đã đưa ra những đề xuất chủ yếu. Tiếng Việt nhờ đó mà trở thành một tiếng nói của khoa học và văn hoá trên căn bản. Vốn từ công cụ này được tạo từ vốn chữ nho và trong trường hợp vốn chữ nho không đủ thì lấy từ tiếng Pháp. Hoàng Xuân Hãn và Đào Duy Anh là hai người có công lớn với tiếng Việt hiện đại.
Công việc của các cụ vẫn đang được tiếp tục. Mới đây, để xây dựng một hệ điều hành trên nền tiếng Việt cho máy tính, có xu thế dùng mặc định thay vì par défaut. Những yếu tố ngôn ngữ có gốc Hán như vậy vừa mang tính cách Việt, vừa vẫn đảm bảo tính lạ hoá của thuật ngữ mà một từ thuần Việt, hay phiên âm không có được. Do Quốc ngữ ký âm, người ta hoàn toàn có thể tạo từ mới cho tiếng Việt bằng cách phiên âm. Nhưng trong trường hợp có thể dùng yếu tố Hán cổ mà lại dùng cách phiên âm thì cách phiên âm không đại chúng hoá vốn từ vì từ phiên âm vừa lai căng, vừa chỉ dễ dàng cho những người làm tin học với tư cách chuyên gia – những người lại thường giỏi ngoại ngữ – chứ không dễ dùng cho công chúng. Do đó, có thể nói rằng, vốn chữ Nho vẫn còn hữu dụng trong công cuộc xây dựng văn hoá của chúng ta hôm nay.
Nhưng không thể căn cứ vào lý do trên đây mà đưa chương trình dạy chữ Nho vào nhà trường phổ thông, nhất là không thể chỉ căn cứ vào lớp từ công cụ trong khoa học tự nhiên. Vì hai lẽ. Một là, công cuộc sáng tạo từ mới mặc dù là công việc còn tiếp tục mãi mãi và vốn chữ Nho có thể còn hữu dụng cho công cuộc đó không chỉ ngày hôm nay, nhưng đó là công việc của các chuyên gia. Chỉ những nhà khoa học có tư tưởng mới, chỉ có các dịch giả, nhà nghiên cứu mới cần sáng tạo từ công cụ mới, chứ không phải ai cũng có nhu cầu đó. Mà với những người này thì học vấn phổ thông không phải là mặt bằng phổ biến. Hai là, để sử dụng các từ công cụ có gốc từ chữ Nho như đại số, lượng giác, hình học, thì việc biết dạng thức viết của chúng lại không cần thiết. Các từ công cụ trong khoa học tự nhiên thường chỉ mang một nghĩa duy nhất, mà với một từ có một nghĩa duy nhất thì một lần tra từ điển là xem như có thể dùng được rồi.
Như vậy, nhìn lại bốn lý do đã được viện dẫn để đề xuất việc dạy chữ Nho cho học trò phổ thông, chúng tôi chưa thấy lý do nào chỉ rõ công việc này là cấp bách. Tuy nhiên, khi xét lý do cuối cùng, chúng tôi chưa đề cập lớp từ công cụ trong khoa học xã hội. cũng như chưa xét sự tương hợp giữa vốn tri thức cổ đã đại chúng hoá và đời sống xã hội hiện đại (chính trị, kinh tế, văn hoá). Thực tế là, chữ Nho và nền văn hoá mà nó chuyên chở vừa có mặt hữu ích cho công cuộc xây dựng văn hoá hiện nay nhưng cũng vừa có thể có mặt cản trở việc chúng ta suy nghĩ về cuộc sống hôm nay. Đây là lý do vì sao chúng tôi muốn xét vốn từ có gốc chữ Nho trên nền tảng xem tiếng Việt như một công cụ tư duy trong xã hội hiện đại. Muốn sử dụng tốt một công cụ, chúng ta phải hiểu rõ về công cụ đó, nhất là với những người không có nhiều thì giờ suy nghĩ về nó như học trò phổ thông. Do đó, chúng ta cũng phải cho họ biết rằng, vốn từ có gốc chữ Nho là sản phẩm của một nền văn hoá nhất định, mang theo nó một cách nhìn thế giới và một qui tắc tư duy nhất định, mà không phải hễ chúng ta không còn biết dạng thức nguồn (dạng thức viết) của nó thì chúng ta không còn bị nó chi phối. Không nên chỉ nghĩ đến cái lợi là chúng ta có nó, mà còn phải nghĩ đến mặt trái của việc chúng ta sở hữu nó, vì nó đã, đang và sẽ còn phong toả cuộc đời chúng ta và con cháu chúng ta. Dưới góc độ này, việc dạy chữ Nho, hoặc dạy cách nhìn thế giới đi kèm với chữ Nho cho học trò phổ thông có thể phải được đặt ra.

CHÚ THÍCH (kì 2/6):
1. Xem bài “Tôi có kiến ...” gửi ông Văn Chính, Văn nghệ trẻ, số 39 (24/ 9/ 2005).
2. Xem Nguyễn Xuân Thìn, Cụ Vũ Đình Hoè-Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam mới, Văn nghệ, số 38 (17/ 9/ 2005).


Kỳ 3/6: Cách nhìn nhận và diễn giảng về tồn tại của chữ Nho

Nếu chữ vuông bản thân nó không là gì cả, ngoài tư cách là sứ giả nối ta với nền văn hoá cổ, như có nhà nghiên cứu đã phát biểu, thì việc bỏ chữ Nho không có gì khiến ta còn phải suy nghĩ, vì chúng ta đã có “sứ giả” mới là Quốc ngữ rồi. Mọi văn bản của quá khứ đều có thể chuyển tự (và dịch nghĩa nếu cần) sang Quốc ngữ. Nhưng đó lại là một nhận định không chính xác về chữ Nho nói riêng và văn tự nói chung. Chữ Nho nêu ra một qui tắc tư duy, một cách nhìn thế giới đặc trưng, một kho tàng tri thức của riêng nó.
Cách nghĩ của nhà nghiên cứu mà chúng tôi vừa đề cập, xuất phát từ những quan sát về hình thức của abc. Abc có một bảng chữ cái mà mỗi ký tự không là gì cả ngoài giá trị phân biệt nó với các ký tự khác (a ≠ b ≠ c ...) để tạo ra một hệ thống có số lượng ngang bằng với số lượng các âm vị. Người ta gán mỗi ký tự này cho một âm vị. Do đó, viết thực chất là, thay vì phát âm thì với mỗi âm vị, chúng ta vẽ lên mặt giấy một ký tự. Mỗi tập hợp ký tự nằm trong khuôn khổ của hai khoảng trắng là tương ứng với một từ (hoặc một hình vị). Trong giới hạn của từ hoặc của hình vị đó, trật tự phát âm quyết định trật tự các chữ cái (có điểm hơi khác với Quốc ngữ: thay vì phát âm lần lượt các chữ cái, chúng ta đánh vần). Trên nguyên tắc, mỗi chữ cái chỉ có nhiệm vụ ghi lại một âm vị. Do đó, chúng ta bảo rằng, chữ viết là phương tiện ký chép lời nói. Quốc ngữ (hay abc nói chung) không làm thay đổi tính chất của sự giao tiếp bằng lời: thanh âm là cái biểu hiện, còn sự vật hay khái niệm mà thanh âm của một từ qui chiếu, là cái được biểu hiện. Vì bản thân ký tự không tạo ra ý nghĩa mà chính là thanh âm, cho nên, khi quan sát Quốc ngữ, người ta bảo, chữ viết là cái biểu hiện của cái biểu hiện, với hàm ý, nó vô can với tiếng nói và tư duy. Có lẽ vì thế, mới có nhận xét cho rằng, chữ viết nói chung, trong đó có chữ Nho, tự nó không là gì cả.
Niềm tin như thế lại được củng cố thêm bằng những bằng chứng giả: một là, chữ Nôm, tuy bắt nguồn từ chữ Hán nhưng lại được dùng để “ghi” tiếng Nam; hai là, các từ có gốc chữ Nho tồn tại trong tiếng Việt hiện nay với tư cách là các ký hiệu âm-nghĩa, người Việt hôm nay không cần biết dạng thức viết của chúng, vẫn dùng được chúng với một quyển từ điển Quốc ngữ trong tay. Chúng tôi nói, đây là những bằng chứng giả, bởi vì, thật ra, chữ Nôm không “ghi” mà “biểu” tiếng Nam, còn nghĩa từ có gốc chữ Nho mà ta tìm thấy trong từ điển tiếng Việt hiện đại lại vốn bắt nguồn từ cấu trúc hình nét của dạng thức chữ Nho mà người ta gọi bằng âm., tức là mối liên hệ giữa thanh âm và ý nghĩa ở đấy khác với mối liên hệ giữa thanh âm và ý nghĩa trong tiếng nói mà ngôn ngữ học xác định là võ đoán. Cho nên, quan điểm cho rằng, chữ Nho không là gì cả có thể bắt nguồn từ những quan sát về hình thức của Quốc ngữ. Thực ra, chữ Nho chi phối cả tiếng nói lẫn tư duy và Quốc ngữ cũng vậy, tuy với mỗi loại hình chữ viết, sự chi phối ấy lại diễn ra một khác.
Đúng là Quốc ngữ ký chép tiếng nói thông qua sự ký chép các âm vị, và sự ký chép này hoàn hảo đến mức, ta tưởng nó vô can với tiếng nói và tư duy. Nhưng nếu xét cách mà nó ký chép thì ta sẽ thấy là nó không vô can. Vì sự ký chép của Quốc ngữ đã tách bạch khối thanh âm làm nên một từ của chúng ta thành các chữ cái, nó tạo ra một thao tác là phân tích. Việc thay một âm vị bằng một chữ cái, thực chất là việc thay nhiều sự vật có cùng một tính chất (mỗi người có một âm tố cụ thể nhưng mọi âm tố đều bắt nguồn từ một âm vị) bằng một ký hiệu, giống như ta đặt x, y, z... khi giải một bài toán bằng đại số học. Đây là thao tác mà chúng ta gọi là khái quát hoá. Trong thao tác này, thế giới khách quan (các âm) và thế giới của nhận thức (các chữ) là hai hệ thống ký hiệu khác nhau. Đó là nguyên lý chủ biệt trong nhận thức. Khi ta đọc một tập hợp ký tự làm thành một từ, con mắt ta phải điểm qua từng chữ cái do sự phát âm là có tính chất tuyến tính (đánh vần có hơi khác một chút). Thao tác này khiến những ai đã dùng Quốc ngữ, sẽ trình bày một ý kiến của họ theo một hành trình, mà mỗi điểm mốc là một ý nhỏ.
Như vậy, có thể hình dung như sau: khi một tiếng nói chưa có chữ viết, khẩu ngữ hiện ra trước người dùng nó như các dữ kiện của một bài toán số học; khi một tiếng nói được ký chép bằng abc, tiếng nói thành văn hiện ra trước người dùng nó như các dữ kiện của một bài toán đại số. Quốc ngữ chi phối chứ không phải là đứng ngoài tư duy. Mặt khác, theo kết quả điều tra của các nhà ngữ học trên thế giới, mọi tiếng nói dưới dạng khẩu ngữ, đều có mô hình diễn đạt là chủ-vị. Từ đó, chúng tôisuy luận rằng, có lẽ do Quốc ngữ chỉ ghi âm nên tiếng Việt ngày càng xa rời mô hình đề-thuyết do chữ Nho áp đặt, để trở lại với mô hình chủ-vị vốn có trước kia. Với tiếng Việt, Quốc ngữ lại có thể là nhân tố làm thay đổi nó. Đây chỉ là một giả định mà thôi.  
Nếu Quốc ngữ đã không thể vô can với tiếng nói và tư duy thì chữ Nho cũng thế. Nhưng cách mà nó chi phối tiếng nói và tư duy không giống cách của Quốc ngữ. Vì mỗi chữ đơn hay mỗi yếu tố bộ thủ, hài ý, hài âm trong chữ ghép đều có giá trị tự thân, đều là những hình nét có ý nghĩa độc lập với tiếng nói, khác với các ký tự trong Quốc ngữ. Nếu ta phải lập chúng thành hệ thống thì chúng ta cũng không thể nào căn cứ trên hệ thống âm vị mà phân loại chúng. Do đó, khi kết hợp với tiếng nói, chúng cũng không ký chép các âm vị mà chúng biểu âm, tức là tạo ra một hình thế giữa các hình nét để cho ta, hoặc đoán định ra nghĩa rồi mới suy ra âm, hoặc đoán định ra âm, rồi suy ra nghĩa, hoặc suy ra cả hai cùng một lúc. Nhưng ngay cả trong trường hợp một chữ có yếu tố hài âm , thì bộ thủ (biểu nghĩa “câm”) vẫn hiện diện và chữ ghép này cũng không hề “ký” các âm vị mà là “nhái” một yếu tố âm của một chữ khác. Chữ Nôm và chữ Hán không khác gì nhau về nguyên tắc biểu ý như trên, nên dù chữ Nôm đúng là để “ghi” tiếng Việt, chữ Nôm vẫn không phải là chữ ghi âm, giống như Quốc ngữ.
Đối với tư duy, chữ Hán và chữ Nôm áp đặt một qui tắc đặc biệt. Khi nhìn một sự vật riêng lẻ, phép thuyết văn không nhận diện cái vẻ ngoài của nó mà đi tìm cái trừu tượng tạo nên cái vẻ ngoài đó. Ví dụ, gặp một người ngũ đoản, thay vì nhận ra đó là một người ngũ đoản (như trong nền văn minh abc), ta bảo đó là một người tài. Do qui tắc này, trong bài thơ Không chồng mà chửa, Hồ Xuân Hương móc nối chữ “phu” với chữ “thiên”: chữ “phu” (chồng) chỉ là chữ “thiên” (trời) mà nét sổ nhô lên khỏi nét ngang thứ nhất. Tức là bà khẳng định, gốc của chữ “phu” là chữ “thiên”. Chữ “liễu” (đàn bà) và chữ “tử” (con) cũng được móc nối theo cách tương tự, nhưng có sự vi phạm thể cách mà ta tạm chưa đề cập. Điều cần ghi nhận ở đây là, trong cả hai trường hợp, hình nét mới là cái biểu hiện và chúng ta sẽ tìm hệ quả của lối tư duy đó ở phần sau của bài viết.
Khi nhìn từ hai sự vật trở lên, phép giải tự cho phép ta hình dung như sau: đứng trước một người mẹ và một đứa trẻ, chúng ta cũng không nhận chân sự vật như nó hiện ra, tức là không xác nhận một tồn tại trong không gian bằng cách miêu tả ((ở chỗ nọ) có một người mẹ và một đứa con), hoặc trong thời gian, bằng cách kể chuyện ((vào giờ nọ), tôi gặp một người mẹ và một đứa con), mà bao giờ cũng đi tìm hình thế của tồn tại (người phụ nữ có con là tốt). Quy tắc này hợp nhất với qui tắc nhìn một sự vật đơn lẻ mà chúng tôi mô tả ở trên để tạo ra một nguyên tắc nhận thức là đi tìm cái không nhìn thấy trong cái nhìn thấy. Vì trong nền văn minh Hán hoá, cái không (dạng thức thường thấy nhất là thiên mệnh) là tồn tại hằng thường, tức là cái chi phối cái ta nhìn thấy (cái có), cho nên, kết quả là, người xưa luôn đi tìm cái mà hình thế của sự vật biểu đạt chứ không nhận chân sự vật.
Cái do hình thế gợi ra thường được gọi, trong đa số các trường hợp, là cái thần của sự vật. Cái thần của sự vật là một cái trừu tượng. Nhưng chúng ta không thể đồng nhất cái trừu tượng trong nền văn hoá cổ của ta (sản phẩm của tư duy chủ toàn) với cái khái quát trong nền văn hoá hiện nay của chúng ta (sản phẩm của tư duy chủ biệt). Vì với chữ Nho, cái trừu tượng luôn được diễn tả thông qua cái cụ thể và không tách rời cái cụ thể, một sự diễn tả cho phép quan sát được bằng mắt, trong khi cái khái quát là cái có ở nhiều sự vật, không phải do trực quan, mà do so sánh, đối chiếu để tìm ra.
Một cách tổng quát hơn, với chữ Nho, chúng ta nhận biết thế giới và diễn giảng những gì ta hiểu về thế giới bằng hình-tượng (chú ý: chúng tôi viết hình-tượng chứ không phải là hình tượng). Hình-tượng là sự diễn tả hiện thực như tương quan về thế giữa các sự vật và hiện tượng đứng cạnh nhau. Khi chỉ có một sự vật thì thế được tìm ra từ tương quan giữa nó với trời đất. Cụ thể hơn, khái niệm hình-tượng mà tôi dùng ở đây có thể mô tả bằng hai dạng thức, hoặc như nghệ thuật chơi cây cảnh từ xưa đến nay: một cây si không chỉ mang hình hài của cây si mà còn mang cái thế nào đó của trời đất; hoặc như như nghệ thuật đắp hòn non bộ: có núi cao, nước thẳm, có con người... để diễn tả một tâm thức về tồn tại, chứ không phải là mô phỏng dạng thức tự nhiên của tồn tại. Hình-tượng mà chúng tôi dùng khác với khái niệm hình tượng được dùng trong lý luận văn chương – nghệ thuật hiện đại của ta, vốn có nghĩa, do tiếp nhận từ Phương Tây và cũng do tương hợp với tư duy bằng Quốc ngữ, là một hình ảnh cụ thể-cảm tính về thế giới, chỉ có giá trị nhận diện sự vật và phân biệt nó với một hình ảnh cụ thể-cảm tính của một sự vật khác (giống như sự nhận biết và phân biệt các ký tự trong Quốc ngữ).
Bây giờ chúng ta xem xét hiệu  quả của lối diễn giảng thế giới bằng hình-tượng. Từ cách chơi chữ (chứ không phải là phép tu từ bằng thanh âm) của bà Hồ Xuân Hương, chúng ta biết rằng, gốc của chữ “phu” là chữ “thiên”. Vậy thì, chồng vợ là do trời định. Nhưng nếu chồng vợ đã là do trời định, thì không phải vì tình yêu mà trai gái lấy nhau, cũng không phải nếu không chịu đựng được tính tình của nhau thì vợ chồng đưa nhau đến toà án đòi ly dị. Người phụ nữ lấy chồng là được cái khác, chứ không phải là được tình yêu. Ta có thể lấy một chữ khác để minh hoạ cho điều này: chữ “hảo” là tốt được cấu tạo từ chữ “nữ” (phụ nữ) và chữ “tử” (con). Cấu trúc của chữ này cho ta biết rằng, người phụ nữ có con là tốt. Lối sống cũ hoàn toàn chứng minh chân lý mà chữ “hảo” mô tả: tín ngưỡng thờ tổ tiên coi trọng cuộc đời sau khi chết. Có con thì việc thờ cúng không bị đứt đoạn. Có con chẳng những làm cho người phụ nữ được tôn vinh ngay khi còn sống (không có con thì dù có đoan trang, đức hạnh đến mấy cũng có thể bị chồng bỏ), mà khi chết, hồn cũng có chỗ mà về (vì lấy chồng là sống gửi thân, chết gửi hồn). Từ đó, phụ nữ bao giờ cũng chiều người lấy việc, chiều chồng lấy con.
Không phải ngẫu nhiên mà chữ Nho tạo ra, về cơ bản, những tri thức về thiên mệnh và thói sùng bái kinh nghiệm vì hai thứ này gắn bó với nhau (kinh nghiệm sản xuất cũng là kết quả quan sát những biến đổi được xem là do trời khiến chứ không phải là do thực nghiệm). Kho tàng tri thức đó có những mặt khó thích hợp với cuộc sống hiện tại. Làm sao trai gái hôm nay chấp nhận được quan niệm về hạnh phúc như ta vừa nói. Nhưng phủ nhận sạch trơn vốn tri thức đó cũng không được. Tôi xin nêu một ví dụ khác.
Do nguyên tắc diễn tả cái trừu tượng bằng hình-tượng thể hiện trong chữ Nho mà người Việt nhắn nhủ nhau:
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Lối ví ngầm này chỉ ra một cách trực quan cái cách thức trong đó, các sự vật tồn tại, giống như nguyên tắc biểu đạt bằng hình-tượng của chữ Nho. Nó tạo ra một quan niệm rất đẹp về đời sống cộng đồng. Mà nhận thức lại gắn liền với ứng xử. Nếu chúng ta bảo rằng, chính theo tinh thần của câu ca dao đó mà những người Việt xa xứ cách đây mấy tuần đã đùm bọc nhau trong cơn bão tàn phá một phần nước Mỹ, khiến người Mỹ cũng phải ngạc nhiên về tình cảm cộng đồng của họ, thì các nhà nhân chủng học chắc cũng không phản đối. Mà sở dĩ người Mỹ ngạc nhiên là vì, trong tâm thức của họ, các thành viên của cộng đồng thường cư xử với nhau theo nguyên tắc công dân, mà tư tưởng công dân lại được xây dựng trên nguyên tắc phân tích và khái quát hoá về quyền cư trú, thành quyền lợi và nghĩa vụ, do người Hy Lạp, tác giả của abc, tìm ra từ mấy ngàn năm trước. Người có quan niệm công dân thuần tuý sẽ thấy việc các thành viên trong một cộng đồng đùm bọc nhau trong hoạn nạn một cách vô điều kiện là một chuyện lạ.
Những điều chúng tôi vừa trình bày trên đây cho phép kết luận rằng, chữ Nho là hiện thân, chứ không phải chỉ là sứ giả của nền văn hoá cổ. Không biết mặt chữ thì không biết cái lý mà suy luận. Mà kho tàng chữ nghĩa đó lại phong phú vô cùng. Nó không những khổng lồ về số lượng mà mỗi chữ lại là một cái chìa khoá cho riêng nó để đi vào một số châm ngôn, trước tác, một số tri thức về văn, sử, triết, tín ngưỡng hay nghi lễ nào đó. Cho nên, với chữ đơn, người xưa đã phải thuyết văn, còn với chữ ghép, người xưa đã phải giải tự. Việc hiểu được vốn chữ Nho, do đó, là công việc mà cả đời chuyên tâm cũng không dám chắc, nói gì đến người không chuyên. Thực tế đó làm chúng ta phải nản lòng khi muốn trả lời câu hỏi dạy chữ Nho như thế nào. Dạy để học trò đọc được chữ, hiểu được văn hoá cổ, thì người Trung Quốc cũng không dám nghĩ đến, dù họ chế ra chữ Nho và chưa hề bỏ nó bao giờ. Chọn vài trăm chữ để dạy (bạch thoại với tư cách là một ngoại ngữ đòi hỏi vốn chữ tối thiểu là khoảng bốn, năm trăm chữ) thì lấy tiêu chí gì để chọn vì mục đích cụ thể của việc dạy chữ Nho rất khó xác định. Mà không xác định được mục đích thì có dạy cũng không đem lại kết quả gì. Chữ thầy rồi lại giả thầy vì học trò không dùng đến chúng trong cuộc sống thường nhật. Không thể chỉ vì việc đọc hoành phi, câu đối  mà ta bắt học trò học chữ Nho. Mà muốn ai cũng đọc được hoành phi, câu đối thì cũng phải kéo chương trình học phổ thông hiện nay thêm vài năm là ít.  
Tuy nhiên, khó mà dứt khoát nói không với việc dạy chữ Nho vì những người đề xuất yêu cầu dạy chữ Nho đều là những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ... Cho dù họ không chuyên nghiên cứu về văn tự, hoặc thậm chí cũng không biết cả chữ Nho nữa, cho dù lý lẽ họ đưa ra còn chưa rõ ràng; họ cũng chưa tính được phải dạy ra sao, nhưng họ đều đưa ra ý kiến một cách nghiêm túc và thể hiện những băn khoăn về tương lai của thế hệ trẻ. Phải chăng, những ý kiến của họ đã xuất phát từ một sự mẫn cảm nào đó về nhu cầu sở hữu vốn chữ Nho, vì những lý do khác với những lý do mà chúng ta đã đề cập, trong cuộc sống và trong việc sử dụng tiếng Việt? Chúng tôi sẽ thử giải đáp câu hỏi này trong số báo sau.


Kỳ 4/6: Khó khăn trong việc sử dụng thuật ngữ, lối nói và từ ngữ có gốc chữ Nho

Từ khi dùng Quốc ngữ thì trên lý thuyết của tiếng Việt thành văn, chúng ta chỉ nghĩ bằng từ, chứ không còn nghĩ bằng hình nét và thanh âm kết hợp như khi dùng chữ Nôm, vì Quốc ngữ chỉ ký chép âm. Mà đã nghĩ bằng từ thì khi vận dụng một âm, sự qui chiếu là nghĩa hiện đại của âm đó, vì mối quan hệ âm-nghĩa trong tiếng Việt Quốc ngữ cũng trở nên lỏng lẻo, như trong khẩu ngữ (chúng tôi tránh dùng thuật ngữ võ đoán để không làm sai lệch bản chất mối quan hệ âm-nghĩa của những từ có gốc chữ Nho). Trong giao tiếp bằng lời, nghĩa từ nguyên của từ không hiện hữu. Nghĩa hiện đại của từ, cũng trên lý thuyết, là tương hợp với những sự vật và khái niệm trong cuộc sống hiện tại.
Nhưng thời hiện tại lại không bao giờ chỉ là thời hiện tại. Thời hiện tại chẳng qua chỉ là một hay nhiều thời quá khứ cộng thêm với các nhân tố mới của thời đại mà thôi. Trong một gia đình bây giờ, cha mẹ thường không quên ngày giỗ ông bà, còn con cái thì không quên ngày sinh nhật của họ. Làm giỗ bắt nguồn từ quan niệm cho rằng, sự tồn tại của linh hồn sau khi chết là trọng, còn kỷ niệm sinh nhật thì bắt nguồn từ quan niệm  cho rằng, cuộc đời mà ta đang sống là trọng. Hai mỹ tục, hai thế giới quan và hai nhân sinh quan trái hẳn nhau, nhưng cùng tồn tại một thời. Thành ra, hiện thực bao giờ cũng là sự hoà trộn giữa quá khứ và hiện tại.
Vậy mà toàn bộ thế giới quanh ta, cũng như sự vận động của thế giới đó, lại chỉ được phản ánh vào trí não ta, nhờ tiếng nói, vì tiếng nói là hiện thực trực tiếp của tư duy. Một tiếng nói (một ngôn ngữ) cũng giống như một tấm lưới mà mỗi từ là một mắt lưới, nhờ những mắt lưới đó mà ta nắm bắt được hiện thực quanh ta. Nhưng sự vật hay khái niệm mà âm thanh của một từ qui chiếu, lại ở trạng thái vận động, hoà lẫn hoặc thay thế nhau. Khi ta dùng một từ, ta tưởng như ta đang chỉ dùng nghĩa hiện đại của nó, nhưng thật ra, những hàm nghĩa khác vẫn chi phối đầu óc ta, do sự thừa kế tự nhiên giữa các thế hệ, do những quyền lực vô hình hay hữu hình của những gì thuộc về quá khứ. Đôi khi, sự quy chiếu của từ ngữ đã đánh lừa chúng ta. Mà nó không chỉ đánh lừa một cá nhân, một hay một vài thế hệ. Nó có thể đánh lừa cả một vùng văn hoá, trong hàng thế kỷ. Không biết mình có thể bị sự qui chiếu đánh lừa thì không thể hiểu được ngay những gì đang diễn ra trước mắt. Đó có thể là lý do vì sao, nhiều người vẫn thấy chữ Hán cần được chiếm hữu, vì nó là một hệ qui chiếu mà quyền lực của hệ qui chiếu ấy vẫn hiện diện trong tín ngưỡng, tôn giáo hay nghi lễ, trong cách chúng ta làm văn hoá và nghệ thuật, trong thói quen nhận thức và ứng xử của chúng ta. Tôi cũng thuộc trong số những người nghĩ như thế và tôi xin đưa ra một vài ví dụ để giải thích tại sao, chữ Hán và qui tắc tư duy của nó có thể làm cho suy nghĩ của ta sai lệch. Những ví dụ này sẽ lấy trong nghiên cứu văn chương để câu chuyện văn tự ở đây, tiếp cận những mối quan tâm của độc giả Văn nghệ Trẻ.
1. Chu dịch và mỹ học(1) là một cuốn sách được xem như thuộc trong số những cuốn sách hàng đầu về lý luận văn nghệ Trung Quốc hiện nay mà nội dung chủ yếu là chứng minh rằng, mỹ học Trung Hoa đã phát hiện ra cấu trúc hình-tượng từ Chu dịch. Truy tìm nguồn gốc như vậy không có gì để bàn cãi. Văn hoá dân gian của ta cũng đầy cứ liệu có thể giúp ta chứng minh cách nhận biết và diễn đạt thế giới bằng hình-tượng như thế. Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên khi các tác giả đồng nhất hình-tượng (có xuất xứ từ Chu dịch) với hình tượng (có xuất xứ từ Hy Lạp và Phương Tây). Các tác giả của cuốn sách cho rằng, “thứ nhất, tượng quẻ là cụ thể, cảm tính” rồi dẫn lời Hegel để khái quát rằng, “nghệ thuật là dùng phương thức hình tượng hoá cảm tính, đem chân thực trình ra với ý thức”; rằng, thứ hai, tượng quẻ (và do đó, Chu dịch) “đã kế thừa và phát triển tư tưởng bắt chước tự nhiên (hiệu pháp tự nhiên) và nâng nó lên tầng cao mới” (tr. 102). Chúng ta sẽ không bàn về tư tưởng sô-vanh trong hàm ý là nghệ thuật Trung Hoa không những đã tìm ra những tư tưởng của Hegel từ thời cổ đại (với Chu dịch), không những đã đề xuất lý thuyết mô phỏng như Aristote, mà còn phát triển nó cao hơn, vì quyền tự hào dân tộc là quyền của các tác giả. Chúng tôi chỉ bàn về một lầm lẫn chết người trong việc đánh đồng khái niệm hình-tượng trong chữ Nho với khái niệm hình ảnh của Phương Tây (do alphabet tạo ra) mà chúng ta hiện nay vẫn gộp chung làm một do chỉ có một lối viết là hình tượng. Sự lầm lẫn này có nguồn gốc từ thời Tân thư, khi nhu cầu dịch thuật là cấp bách và quan niệm về dịch thuật bấy giờ là lấy tiếng nói dân tộc làm cơ sở, bất chấp một sự thật là, sự vật được nhìn khác nhau trong những thế giới khác nhau. Có thể vạch ra lầm lẫn ấy như sau:
Từ điển Đào Duy Anh giảng chữ “hình” là có ba nghĩa: nghĩa thứ nhất là cái bày đặt ra. Cái bày đặt ra thì không phải hình ảnh trung thực về sự vật mà là cái thần của sự vật, giống như Nguyễn Du, thay vì cho ta biết Thuý Vân ăn vận, đi đứng, nói năng thế nào, lại bảo ta là nàng “trang trọng khác vời”. Nghĩa thứ hai là dung mạo. “Dung” có hình gốc là một cái lọ để trong một cái hang. “Mạo” có gốc từ chữ “mão” (mũ) mà ra. Vậy thì dung mạo không phải là hình vẽ tả thực để nhận diện về sự vật mà là cái mà sự vật hàm chứa hay toát lên. Nghĩa thứ ba là thế đất. Tìm ở mô đất một con rồng chầu hay một con hổ ngồi thì nhận diện mô đất không phải là mục đích cuối cùng của nhận thức. “Tượng” là hình vẽ đầy đủ các bộ phận của một con voi. Nhưng nó có thêm các nghĩa, cũng theo Từ điển Đào Duy Anh, là hình trạng, phép tắc. Như vậy, hình-tượng là phép nhận biết cái trừu tượng trên hình thế của các sự vật và cái trừu tượng này bao giờ cũng được chỉ ra bằng chính hình thế đó. Do mỗi hình-tượng chỉ là một tương quan, một hình thế nên người ta có thể so sánh chúng với nhau nếu chúng có cùng tương quan, cùng hình thế (thuyền bến có thể ví với những người thương do có cùng hình thế là gắn bó với nhau). Trong số báo trước chúng tôi đã dẫn ra thú chơi cây cảnh và hòn non bộ để chúng ta hình dung khái niệm hình-tượng trong nền văn hoá chữ Nho.
Nếu bản chất của khái niệm hình-tượng là như trên, có nguồn gốc là mô hình tượng quẻ trong Chu dịch, thì dứt khoát nó không thể mang tính chất cụ thể-cảm tính. Cụ thể là mô tả sự vật như nó hiện ra, trái với trừu tượng là nắm bắt cái thần của sự vật. Không cụ thể thì không gây ra cảm tính, tức là không gây ra yêu, thương, giận, hờn một cách tự nhiên như ta chứng kiến những con người và những cảnh đời trong cuộc sống thật. Do đó, nghệ thuật không bao giờ là bắt chước tự nhiên (bắt chước con người hành động như trong cuộc đời thật) như quan niệm của Aristote và nguyên lý của nghệ thuật cũng không bao giờ là nói bằng hình ảnh (allégorie, trình bày một tư tưởng về hiện thực) như ý kiến của Hegel. Nói bằng hình ảnh tả chân tức là nói bằng ẩn dụ (một hình ảnh đã có thể mang giá trị một khái niệm, ví dụ bàn tay là ẩn dụ về quyền năng của Chúa, chứ không dính dáng gì đến hình thế).
Từ hai lý thuyết hình-tượng và hình tượng, xuất hiện hai mô hình văn chương khác hẳn nhau, kể cả ở Trung Quốc. Văn chương hiện đại Trung Quốc cũng đã rời bỏ mô hình cổ đại vì một mặt, người Trung Quốc hiện nay dùng bạch thoại, chữ giản thể hay không giản thể của họ không bao giờ trở thành văn tự ghi âm đích thực, nhưng nó đã được cải tiến theo nguyên tắc lấy lời nói làm chuẩn cho văn tự. Hai là, nghiên cứu và phê bình văn chương của Trung Quốc hiện nay (do định hướng sáng tác) tự xác định là bắt đầu lại từ các tiêu chí của Phương Tây để tìm cách vượt qua nền nghiên cứu và phê bình đó (xem tuyên ngôn này trên nhiều bài báo của các học giả Trung Quốc đương đại đã được dịch trên Văn nghệ). Nhưng chúng ta hãy trở về với nghiên cứu và phê bình của ta.
Chúng ta đã dùng Quốc ngữ thì trên nguyên tắc, văn chương cổ và văn chương hiện đại của chúng ta phải khác hẳn nhau. Nhưng vấn đề lại ở chỗ, thứ nhất, ý thức về sự khác nhau này không dễ. Người Việt chúng ta cũng hầu như cũng không phân biệt hình-tượng với hình tượng và điều này thấy rõ ngay trong Từ điển Đào Duy Anh, vì ông cũng đã định nghĩa “hình tượng” là hình dáng bề ngoài, y hệt như định nghĩa về hình ảnh (image) trong tiếng Pháp. Thứ hai, khi một tác phẩm  viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm mà được chuyển tự sang Quốc ngữ thì ranh giới giữa hình-tượng và hình tượng rất khó phân biệt, vì Quốc ngữ chỉ ký âm mà tư duy bằng từ, có bản chất là tư duy ẩn dụ, trong khi hiện thân của lối diễn tả bằng hình-tượng là chữ Hán và chữ Nôm không xuất hiện trước mắt ta. Từ hai lý do ấy, chúng ta dễ mắc hai lầm lẫn là 1. phán xét về văn chương hiện đại y như cách mà các cụ phán xét về văn chương cổ (do thói quen tư duy), và 2. đọc văn chương cổ y như đọc văn chương hiện đại (do chỉ đọc bằng Quốc ngữ). Tôi xin dẫn ra hai ví dụ minh hoạ cho hai lầm lẫn như trên.
Ví dụ thứ nhất là về việc hiểu văn chương hiện đại. Trong vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi, chi tiết làm  nên tư tưởng trung tâm của tác phẩm được khắc hoạ, theo trí nhớ của tôi, như sau: Từ biệt cha, người anh hùng trở về Đông Quan, nhưng đã không sao biết được cần phải bắt đầu từ đâu, bằng việc gì để cứu nước. Ông đọc sách và suy nghĩ thâu đêm suốt sáng. Thế rồi, sách lược cứu nước đã đến với ông một cách bất ngờ: một ngày kia, do chung sống và quan sát những người xung quanh, ông nhận ra rằng, một người mù, một người câm, một người điếc mà hợp sức với nhau thì họ vẫn có con mắt sáng, đôi chân khoẻ và cái tai thính, mà không một người lành lặn nào sánh được. Mù, câm, điếc là những ẩn dụ về quần chúng nhân dân. Nguyễn Trãi rút ra sách lược: phải đánh vào lòng người trước khi đánh vào quân giặc. Đó cũng là một khía cạnh của chữ “nhân” trong tư tưởng Nguyễn Trãi: nhân không phải là lòng nhân, thể hiện trong sự ban cơm, phát áo, mà thể hiện trong việc chỉ cho mỗi người con đường đứng dậy làm người. Đây là Nguyễn Trãi được nhìn bằng con mắt hiện đại và có lý do để nhìn như vậy.
Tư tưởng này không phải từ trên trời rơi xuống. Nó được rút ra một phần từ sách lược đánh giặc của Nguyễn Trãi, nhưng chủ yếu từ thực tiễn Cách mạng và từ hai cuộc kháng chiến của chúng ta. Trong Cách mạng và Kháng chiến, chúng ta cũng đặt nhiệm vụ giác ngộ, giáo dục quần chúng là nhiệm vụ trọng tâm. Nguyễn Đình Thi viết tác phẩm này ngay sau khi miền Nam vừa được giải phóng. Tôi nghĩ, ông tái tạo một nhân vật lịch sử nhưng muốn gửi gắm vào đó những suy tưởng của ông về Cách mạng và về thời hiện tại, về sự tiếp nối truyền thống. Vở kịch lại do một đạo diễn có tài năng lớn là Đình Quang chỉ đạo và do nhiều diễn viên xuất sắc vào vai nên tính cách ẩn dụ của các vai được thể hiện khá rõ ràng. Nhưng khi xem xong, một nhà phê bình có danh tiếng lúc bấy giờ bảo tôi (tôi là người đã đề nghị tác giả cho diễn thêm buổi đó để cán bộ và sinh viên khoa Văn xem), “thể hiện lãnh tụ như thế thì không được”. Ông đã hiểu tác phẩm như một sự ám chỉ: lãnh tụ chẳng biết gì, chẳng qua dân dạy khôn cho mà thôi. Ông phán xét về tác phẩm theo hình thế của các nhân vật chứ không theo lối ẩn dụ mà Nguyễn Đình Thi và Đình Quang đã dụng công dàn dựng. Nó bắt nguồn từ thói quen nhận biết và diễn giảng thế giới bằng hình-tượng, như với văn chương cổ. Trong văn chương cổ, nhà văn nói chuyện một nhà vua trong quá khứ nhưng chính là để răn đe ông vua đang tại vị. Dĩ nhiên, nghĩ như vậy thật là lầm lẫn đáng tiếc, vì văn chương hiện đại nói chung và tác phẩm của Nguyễn Đình Thi nói riêng đã rời bỏ mô hình sáng tạo của quá khứ. Nó không ám chỉ mà nêu ra một tư tưởng về hiện thực. Tiếc thay, cách phê bình tương tự về văn chương hiện đại vẫn còn chi phối nhiều người.
Ví dụ thứ hai là về cách hiểu văn chương cổ. Chúng tôi xin trở lại với cách hiểu bài Mời trầu của Hồ Xuân Hương mà chúng tôi đã có dịp nói trên Văn nghệ. Một vài nhà nghiên cứu cho rằng, với bài thơ đó, Hồ Xuân Hương chửi vào nhân tình thế thái. Nói như vậy là có căn nguyên: theo phép tư duy bằng ẩn dụ thì “trầu hôi” có thể được hiểu là trầu ôi héo. Trong ngày được dạm hỏi, người phụ nữ trong bài thơ này đã biểu hiện trước thái độ không hưởng ứng bằng cách mời khách ăn miếng trầu không ngon, với ngầm ý xua đuổi. Nếu thế thì Hồ Xuân Hương thực sự là một người đanh đá và chua ngoa. Cho nên, ta bảo, Hồ Xuân Hương chửi vào nhân tình thế thái là phải. Nhưng nếu xét theo nguyên lý hình-tượng của văn chương cổ thì trầu hôi không thể đứng một mình mà phải đi với quả cau nho nhỏ. Mặt khác, “trầu hôi” trong chữ Nho phải là một thực từ, nên phải liên hệ với một sự vật có gốc gác thật (giống như Kiều, Hoạn Thư, Lục Vân Tiên ... phải là những nhân vật trong sử, thành văn hay truyền khẩu). Trong trường hợp này, trầu hôi (thứ trầu tìm ở đâu, vào mùa nào cũng có thể thấy) chứ không phải trầu quế (thứ trầu thượng thặng nhưng không ra lá vào mùa đông) là một loại trầu đích thực, chẳng ôi héo gì cả. Đặt bên cạnh quả cau nho nhỏ thì miếng trầu (gồm trầu và cau) của Hồ Xuân Hương thể hiện một hình thế hài hoà chứ không khập khiễng: cau nho nhỏ là cau hoa, chưa phải là cau bánh tẻ, cau đúng độ ăn trầu. Lá trầu ấy, người têm đã “đã quệt (vôi)” rồi, tức là đã tỏ trước thái độ đồng ý bằng sự mời chào lịch sự, khiêm nhường, nhưng không quên nhắc rằng, mình cũng chẳng kém cạnh gì. Hai câu sau sẽ là lời cầu mong chân thành về sự đằm thắm nhưng không hạ mình. Nếu phân tích như cách các cụ phân tích về văn chương cổ như thế, người mời trầu là một người khiêm nhường (xem mình là lá trầu hôi) nhưng biết người, biết ta (kẻ khác cũng chỉ là cau hoa thôi), khao khát hạnh phúc nhưng tự trọng chứ không phải là người chua ngoa, cong cớn, như một vài cuốn sách hiện nay vẫn viết.

CHÚ THÍCH (kì 4):
1. Lưu Kỷ Cương, Phạm Minh Hoa, T.S Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. Văn hoá-Thông tin, H., 2002.

 

Kỳ 5: Khó khăn trong việc sử dụng thuật ngữ, lối nói và từ có gốc chữ Nho (tiếp theo)

Khi chúng ta dùng tiếng Việt hiện đại, việc nắm bắt những sự qui chiếu khác nhau, nếu có, là bắt buộc vì các sự vật và khái niệm trong đời sống văn hoá của chúng ta có cả hai nguồn gốc, bất chấp việc chúng ta gọi nó bằng cùng một tên trong tiếng Việt. Điều này giải thích vì sao trong trước tác của những người chưa hoàn toàn nghĩ bằng Việt ngữ, mà vẫn nghĩ bằng các thuật ngữ gốc, có những phát hiện mà thế hệ sau không dễ dàng chia sẻ. Ví dụ, ý kiến của Đặng Thai Mai theo đó, chính việc viết tiếng Việt bằng bút lông (viết chữ Nôm) đã khiến Phan Bội Châu trở thành một nhà văn đơn độc (mà theo tôi đó là một mẫn cảm đặc biệt trong hoàn cảnh ngôn ngữ học đã xác lập vị thế độc tôn trong suy nghĩ về tiếng nói và về văn chương), không được ai nhắc lại và suy nghĩ tiếp. Nếu chúng ta nghĩ tiếp ý kiến đó thì chúng ta sẽ giải thích sự ra đời của thơ mới theo một hướng khác chứ không phải lúc nào cũng chỉ viện đến ảnh hưởng của Pháp, đến đời sống đô thị hay điều kiện kinh tế, trong khi học theo một nền văn hoá khác không phải đơn giản như mượn khuôn đóng gạch, còn đời sống đô thị hay điều kiện kinh tế thời thuộc Pháp ở ta thì chưa phải đã có sự đột biến và nếu đã xem xét thơ mới như sự thay đổi mô hình thì cũng chưa chắc đã cần tính tới. Ví dụ, những ý kiến của Cao Xuân Huy về cái có, cái không, về tư duy chủ toàn và tư duy chủ biệt, có thể xem như những chìa khoá căn bản để mở ra những bí mật về bước chuyển trong nền văn hoá và văn chương của chúng ta, gần như không được thế hệ sau mài rũa thêm để dùng mà lại bị xếp vào kho “lưu trữ” đồ cổ.  
Khi đưa ra những nhận xét như vậy, không phải là chúng tôi không biết đến nhận định của Lại Nguyên Ân về mối liên hệ giữa Quốc ngữ và thơ mới trong báo cáo mà anh đã đọc ở hội nghị khoa học do chính chúng tôi góp phần tổ chức, nhưng ý kiến của anh mới chỉ là một mẫn cảm khoa học, chứ chưa được anh đầu tư nghiên cứu. Chúng tôi cũng không phải không biết đến vài cuốn từ điển văn học và thuật ngữ văn học mà có những cuốn chúng tôi có tham gia biên soạn. Nhưng những cuốn sách công cụ này, ngoài một số mục từ được viết công phu, còn quá nhiều mục từ chỉ dựa trên tài liệu tham khảo,không được kiểm chứng bằng thực tiễn nghiên cứu của chúng ta, do đó, chúng tôi sẽ trở lại với việc suy nghĩ bằng các thuật ngữ có gốc chữ Hán mà không trích dẫn các công trình đó.
Một khi đã làm khoa học thì chúng ta chẳng có cách nào khác hơn là suy nghĩ bằng thuật ngữ. Mỗi thuật ngữ giống như một số đo về góc mở và những độ dài tương ứng của hai cạnh cái compa tiềm ẩn trong mắt ta. Vì thế, đôi khi, những số đo khác nhau đã dẫn ta theo những cuộc phiêu lưu rất khác nhau. Khi dịch “mythe” là thần thoại (tôi không biết tự bao giờ và do đâu, chưa chắc đã là do người Việt vì với lợi thế của chữ Hán, ta có thể học cách dịch này từ Nhật Bản hay Trung Hoa), chúng ta có một loại truyện về thần. Cấu trúc gốc Hán của thuật ngữ cho phép ta hiểu như thế. Khi điểm lại những Truyện Âu cơ, Chử Đồng Tử, Từ Thức lấy tiên, ta bảo, ta không có thần thoại, vì đó toàn là truyện kể về người xưa, ta chỉ có cổ tích thôi. Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta lại bắt gặp những chuyện chẳng phải là chuyện về thần, mà cũng chẳng phải là cổ tích, ví dụ như sự trì trệ của cơ chế đến mức mà tư duy lôgic của ta cũng không giải thích được chẳng hạn, có màu sắc như một thần thoại hay cổ tích, ta bèn bảo đó là một huyền thoại. Thế là ta có ba thuật ngữ, chỉ ba kiểu truyện mà người Phương Tây gọi chung là mythe, theo nghĩa là truyện hoang đường, kỳ ảo, bịa đặt. Quyền sáng tạo thuật ngữ là quyền của chúng ta. Tiếng Việt là do cha ông ta để lại và chỉ có chúng ta dùng, chúng ta không cần quan tâm đến việc nó có tương hợp với ngôn ngữ của người Phương Tây hay không. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm đó. Nhưng nếu căn cứ vào cách dùng các thuật ngữ khác nhau để phân loại như thế mà đi tìm  nét độc đáo của văn hoá dân tộc, thì lại là chuyện khác. Ví dụ, ai đó bảo rằng, người Hy Lạp có thần thoại, còn ta thì ta có cổ tích, chẳng hạn. Nhận định như thế thật tức cười vì trong mythe đã bao gồm cổ tích rồi và loại truyện này thì người Hy Lạp có nhiều lắm. Tôi nhớ hình như Gorki có khuyên rằng, hãy nói rõ xem ta đang tranh luận về cái gì đã rồi hãy tranh luận với nhau. Nếu người Phương Tây mà thấy ta so sánh chỗ tương đồng, dị biệt giữa văn hoá của  ta với văn hoá của họ như thế thì họ khó mà đồng ý với ta được. Cho nên, chúng ta cần phải “cảnh giác” vói khả năng soi sáng cho tư duy của kho tàng thuật ngữ có gốc chữ Nho, nhất là khi nghĩ về văn chương hiện đại. Chúng ta cũng nên lưu ý rằng, lý luận và sáng tác có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Những lầm lẫn trong lý luận, trong phê bình và nghiên cứu, sẽ chỉ kìm hãm sáng tác. Đó là một chủ đề mà chúng ta có thể đề cập vào một dịp khác.
2. Ta chuyển sang lối nói có gốc chữ Nho. Lê Bầu (trong Nên hay không nên dạy chữ Nho?, Văn nghệ, số 40, ngày 1/ 10/ 2005) sau khi đã rất đắn đo, vẫn phải kiến nghị với vị đại biểu Quốc hội nào đó là nên cố học thêm một chút để đừng nói “danh không chính thì ngôn không luận”. Nghị trường là nơi bàn những việc hệ trọng, một tiếng nói, cả đất nước lắng nghe mà nói như thế thì nghịch nhĩ lắm vì đa phần người dân đều biết phải nói là “danh không chính thì ngôn không thuận”. Tôi không băn khoăn về sự lầm lẫn thanh âm như thế, vì khó mà tránh hết những sơ sót trong cả văn viết, chứ đừng nói gì đến văn nói. Nhưng tôi rất băn khoăn về việc dùng các thành ngữ hoặc lối nói có sẵn từ chữ Nho như thế vì chúng không mấy thích hợp với nguyên tắc tổ chức của xã hội ta hiện nay. Ta hãy phân tích chính câu nói mà Lê Bầu vừa đề cập.
Danh chính, ngôn thuận, nếu tôi hiểu đúng thì có hàm ý thế này: chưa có danh, hay chưa xứng đáng với cái danh thì lời nói không ai nghe (thuận là nghe theo  do uy tín của người nói chứ không phải do lẽ phải trong lời nói thuyết phục). Vì lý do này, trước hoặc trong khi tổ chức nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi, theo truyền thuyết, đã sai người đi viết tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” bằng mỡ vào lá xanh để kiến đục thành chữ và khi những cái lá này rụng xuống thì chúng biến thành truyền đơn, thác mệnh trời, giao phó chuyện lớn cho hai người đó. Cũng vì lý do này mà Phan Bội Châu, dù rất ghét lối học cử tử, vẫn phải cố giật lấy cái bằng tiến sĩ, trước khi đứng ra hiệu triệu cứu nước. Nó xuất phát từ chân lý của nền văn hoá chữ Nho: danh là do thiên mệnh, không được trời đoái thương thì dù có tài đi thi cũng trượt. Cho nên, cần phải có danh và chính danh (làm cho cái danh được sáng tỏ) đã trước khi muốn người khác nghe theo. Nhưng quan điểm đó không còn hoàn toàn phù hợp với chúng ta ở chỗ, nó xem danh và chính danh là đủ. Đỗ đạt thì được khắc tên vào bia ở Văn miếu, cho dù sau này có thành kẻ mọt dân hại nước cũng không sao (chỉ có tội phản nghịch mới bị đục tên). Nó khẳng định rằng, danh đẻ ra chân lý. Đây là nguồn gốc của thói chuộng danh mà một trong những biểu hiện của nó đã phải được uốn nắn bằng nghị quyết: giới thiệu đại biểu thì chỉ nên giới thiệu chức danh phù hợp với hôị nghị chứ không cần đọc hết các chức danh, làm khổ cử toạ, vì nghị trường là nơi đặt nguyên tắc ngôn chính lên trước nguyên tắc danh chính.
Thật vậy, trong nghị trường, như ở Quốc hội hay Hội đồng nhân dân chẳng hạn, thì lời nói có đúng người ta mới nghe theo, chứ  người ta không nghe ai đó chỉ vì danh. Nếu không thế thì một vị đại biểu xuất thân từ một kỹ sư sẽ không bao giờ dám chất vấn một vị đại biểu có hàm giáo sư bộ trưởng chẳng hạn vì cho dù cùng là đại biểu Quốc hội, nhưng họ vốn có danh khác nhau. Nhưng tại đấy, nguyên tắc trọng chân lý lại đặt mọi người vào sự bình đẳng. Mà đó cũng chính là nguyên tắc để tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhân dân: các vị đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân không trực tiếp điều hành đất nước, nhưng không chỉ mang tiếng nói của dân đến với những người điều hành đất nước mà còn trực tiếp bàn bạc về sự điều hành đất nước, giám sát sự điều hành đất nước bằng ngôn chính (biểu quyết). Lời nói trong xã hội ta đã có thêm một chức năng mới so với lời nói trong xã hội cũ. Trong xã hội cũ, vế ngôn chính không cần đặt ra vì trong xã hội đó, luật hoá thân vào lễ, không có sự bàn bạc mà chỉ có sự thừa hành vô điều kiện. Nó giải thích vì sao người xưa thấy danh chính, ngôn thuận là đủ, còn trong xã hội ta thì cần bổ sung thêm một vế, là, ngôn chính, nhân thuận. Nếu không có thêm vế này thì không có nhà lãnh đạo nào còn đọc báo chí, hoặc nghe tiếng nói của dân nữa.  
Từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy việc ta dùng lại vốn chữ nghĩa cũ không phải bao giờ cũng dễ. Cách đây vài tuần, trên mục Tiếng nói nhà văn của tờ Văn nghệ, Trần Đình Sử có nêu ra những băn khoăn của ông xung quanh khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”. Nếu đẩy xa hơn những điều ông phân tích, chúng ta phải nhận rằng, khẩu hiệu đó là trái với phép biện chứng. Học “lễ” là học tuân thủ sự phân công xã hội, học “văn” là học tri thức. Người xưa cho “lễ” đi trước một bước vì “lễ” là do “danh” mà “danh” lại bất di, bất dịch. Nhưng trong xã hội hiện nay của chúng ta, khi quan niệm về thiên mệnh đã bị phủ nhận, sự phân công xã hội là do tài đức. Bầu cử là hình thức xác nhận lại cái “danh” sau một khoảng thời gian nhất định để kiểm tra “danh” bằng tài đức. “Văn”, do đó, tạo ra “danh” và là điều kiện của “lễ”. Nếu ta cứ dùng khẩu hiệu cũ, tức là ta cứ cho rằng, “lễ” phải đi trước “văn” một cách vô điều kiện, “văn” cứ tách bạch với “lễ” như quan niệm xưa. Vị thế người thầy chẳng hạn, theo cái lý đó, là được tôn vinh bất chấp tài, đức. Điều này có thể dẫn đến một hiện tượng là, khi có điều gì bất thường ở học đường, chúng ta thường lớn tiếng mắng học trò là tha hoá về đạo đức, chứ không mấy khi đặt câu hỏi, liệu có gì không ổn về năng lực và tư cách của người thầy ở đó hay không. Dỡ bỏ khẩu hiệu đó, lôgic của tư duy sẽ là, ở đâu có học trò hư, thì ở đó, thầy giáo cũng phải nhìn lại mình, nếu không phải về mặt năng lực, thì cũng là về mặt tư cách. Lối nói cũ không còn phù hợp với bản chất của xã hội hiện nay. Tôi cũng nghĩ như Trần Đình Sử, không nên vì sính chữ mà thành ra lại đề cao nền luân lý phong kiến vào thời đại dân chủ.
3. Bây giờ chúng ta nói đến việc sử dụng các từ có gốc chữ Nho. Một nhà Việt ngữ, trên tờ VNexpress, đã nêu ra những rắc rối trong việc phân tích một câu mà hầu như ai cũng từng nghe: “Tôi học sinh vật học” để nêu ra lý do vì sao phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam. Nó là phong ba, bão táp thật, không chỉ với người nước ngoài, mà đặc biệt với học trò phổ thông. Tôi thấy có nhiều học trò phổ thông không có khả năng phân tích câu. Nhà ngữ học đi đến một đề xuất là nên viết Tôi học sinhvậthọc chẳng hạn, cho sự nhận biết về ngữ pháp trở nên dễ dàng. Theo tôi, đây là một đề nghị rất nghiêm túc mà những người xem ngôn ngữ là có khả năng vận động tự thân, độc lập với văn tự, cũng như những người hiểu nhiệm vụ bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt một cách giản đơn (nó đã trong sáng chưa mà ta cứ khăng khăng bảo vệ chứ không chịu quy chuẩn hoá nó) không muốn nhìn ngó đến. Nhưng đây không đơn thuần chỉ là vấn đề từ gốc Hán mà chủ yếu là vấn đề nghiên cứu và hoàn chỉnh Quốc ngữ. Trong bài này, chúng tôi cũng đã chỉ ra lợi ích của việc chuẩn hoá cách viết theo sự phát triển của tiếng Việt hiện đại trong khi dùng hình-tượng và hình tượng.
Từ các ví dụ trên đây, chúng tôi cho rằng, chữ Nho và nền văn hoá chữ Nho không chỉ có lợi mà còn có thể cản trở chúng ta suy nghĩ về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Nhưng không nên vì thế mà nghĩ rằng, nếu chúng ta cứ dạy chữ Nho cho học trò phổ thông thì chúng ta sẽ giúp các em hoá giải được những chướng ngại đó. Những lỗi tư duy mà chúng tôi đã dẫn ra thì những người biết chữ Nho, thậm chí là rất giỏi chữ Nho đã mắc. Tôi nói như vậy, một phần là để cáo lỗi với những ai mà tôi đã nêu ra chỗ lầm lẫn, một phần để tỏ bày một chút kinh nghiệm. Cáo lỗi là vì tôi không đả kích cá nhân, dù những câu chuyện mà tôi nói là có địa chỉ cụ thể. Đó không phải là khó khăn tư duy của một vài người mà là của chung chúng ta, do sự thay đổi chữ viết. Tỏ bày kinh nghiệm cá nhân bởi vì, để vượt qua những khó khăn như thế, không nhất thiết phải giỏi chữ Nho. Về vốn chữ nghĩa, tôi không đáng là học trò của một vài người mà tôi phát hiện được lầm lẫn trong công trình của họ. Chúng ta có thể tránh được những lầm lẫn như thế, nếu chúng ta ý thức về mối liên hệ giữa chữ viết và tư duy và có trong tay một vài cuốn sách công cụ tốt, nếu chúng ta không “chống lại” các nhà ngôn ngữ học khi thừa nhận rằng, ngôn ngữ đúng là hiện thực trực tiếp của tư duy, rằng, lời nói có trước chữ viết, nhưng lại không quên rằng, một tiếng nói mà chưa có chữ viết thì tiếng nói đó mới chỉ đảm nhận được chức năng giao tiếp thông thường, chứ chưa đảm nhận được chức năng làm công cụ cho tư duy trừu tượng và trao đổi tư tưởng. Tiếng nói phải nhờ có chữ viết mới thành công cụ cho tư duy được. Câu cuối cùng này là tôi diễn ý của J. Dérrida, người đã nhìn ra vai trò của chữ viết từ giải cấu trúc luận.
Chính kinh nghiệm bản thân đã khiến tôi thường nghĩ rằng, không nên dạy chữ Nho, vì tôi không phải là người thông thạo chữ Nho nhưng, như những người có sở học giống tôi, tôi có thể dùng được tiếng Việt để nghĩ, nói, viết và dịch thuật ở mức nhất định. Nhưng đó là không nên dạy chữ Nho như trường Pháp – Việt đã dạy chữ Nho, hoặc như cách làm của các khoa Văn hiện nay, vì cả hai cách làm này hoặc ít hữu ích, hoặc cần nhiều thời gian. Đối với học trò phổ thông, không biết tí gì về chữ Nho và nền văn hoá mà nó chuyển tải, không biết tí gì về bước chuyển văn hoá do thay đổi chữ viết, không biết rằng chúng ta đang dùng công cụ nào và thừa kế những gì từ quá khứ ngay trong tiếng nói để ý thức rằng, muốn hiểu một từ thì phải tra từ điển, kể cả từ điển từ nguyên nếu cần, thì theo tôi, sẽ là thiệt thòi lớn cho các em. Các em cần phải dùng tiếng Việt để suy nghĩ và diễn đạt cho dù sau này có chuyên làm toán đi nữa. Dĩ nhiên, muốn thế thì ngoài việc dạy thêm một số giờ về chữ viết ở phổ thông, việc nghiên cứu tiếng Việt trong Quốc ngữ, cập nhật cho từ điển phải là việc thường niên chứ không thể là công việc được chăng hay chớ như hiện nay.

 

Kỳ 6/6: Lời kết

Sau những gì đã trình bày, chúng tôi nghĩ rằng, chúng ta không thể quay lưng lại với chữ Nho và nền văn hoá chữ Nho, bởi lẽ, nền văn hoá đó vẫn và sẽ còn chi phối tư duy của chúng ta và con cháu chúng ta. Vì nó có nguồn gốc rất sâu xa. Thực tế là, cần phải đi tìm cách nhìn thế giới của chữ Nho trong nền văn minh lúa nước, trong cách mà tổ tiên ta hình dung về không gian, về thời gian và về cấu trúc của vũ trụ. Ngay bàn thờ tổ tiên của chúng ta đã có dạng thức của một chữ Nho: bàn thờ có một giá đỡ, giống như một ô vuông qui ước cho mỗi chữ Nho. Trên giá đỡ đó, bài vị và đồ dâng cúng (cái có) là phương tiện để khẳng định sự hiện diện của anh linh của ông bà (cái không). Lời khấn (ngôn ngữ giao tiếp của con người với nhau) hợp nhất với các hình, tượng trên bàn thờ (ngôn ngữ của Trời), để thực thi sự giao tiếp giữa con người với thần linh. Thực tế là, nền văn hoá chữ Nho đang hiện diện: từ cách ta nhìn con người và sự vật đến cách ta ứng xử với nhau, từ tranh Đông Hồ đến bức thư pháp, từ thú chơi cây cảnh đến sân khấu truyền thống, đâu đâu cũng in đậm dấu ấn những qui tắc nhận biết và diễn giảng tồn tại có thể rút ra từ chữ Nho.
Nhưng việc chúng ta dùng Quốc ngữ cũng có những lý do sâu xa, chứ không đơn giản chỉ là sự lựa chọn về văn minh, văn hoá. Đó là lý do về nền độc lập-dân tộc. Theo định nghĩa về dân tộc thì tiếng nói là một nhân tố. Một cộng đồng không có tiếng nói chung thì không thành một dân tộc. Nhưng nhà nước thì gắn với chữ viết. Một dân tộc không quan tâm đến quyền cư trú thì không có nhu cầu sở hữu chữ viết. Đó là trường hợp của người Digan. Dù họ ở Nga, Bungari hay Balan, không ai bắt được con em của họ đến trường. Vì họ thoắt hiện, thoắt ẩn. Cho nên, khi nào chữ viết và tiếng nói dân tộc kết hợp được với nhau thì đó mới là lúc ý thức về quyền độc lập dân tộc chín muồi. Chữ Nôm của ta tạo ra ý thức đó, nhưng chưa đảm đương được vai trò đó (sáng kiến của Hồ Quý Ly, của Nguyễn Huệ đều thất bại, có phần do chữ Nôm không tách được với chữ Hán). Mặc dù vào ta do công cuộc truyền bá đạo Thiên Chúa, Quốc ngữ đã thoả mãn ý thức độc lập dân tộc của chúng ta. Nên nhớ rằng, mọi tuyên ngôn độc lập của cha ông trước Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo, đều chỉ là tuyên ngôn về vương quyền. Cho nên, Quốc ngữ cũng đã tạo ra một ý thức khác hẳn về tiếng nói. Không có Quốc ngữ sẽ không có niềm xác tín của Phạm Quỳnh: Truyện Kiều còn, tiếng  ta còn;tiếng ta còn, nước ta còn. Trong lời phát biểu đó, quan niệm chính âm (của chữ Hán) và không chính âm (của chữ Nôm), do Lê Quý Đôn phát biểu, đã được hiệu chỉnh. Không có gì là mâu thuẫn khi Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp mà vẫn khăng khăng đối đầu với người Pháp trong chính sách giáo dục. Học văn hoá Pháp trước hết là học ý thức về tiếng nói dân tộc của người Pháp.  
Thật vậy, nền văn minh Pháp nói riêng và Phương Tây nói chung khởi nguồn từ abc và đạo Thiên Chúa. Abc cho họ tư duy khoa học. Đạo Thiên Chúa cho họ ý thức về vị thế của lời nói. Khởi thuỷ là  Lời. Lời khải của thánh Jean, ngoài khuôn khổ của Kinh Thánh, có nghĩa là, lời nóichứa đựng chân lý. Nó khác với nền văn hoá chữ Nho, nơi Khổng Tử bảo, trời có nói gì đâu, vì hình nét mới chứa đựng chân lý. Sự kết hợp giữa abc và lời nói tạo ra tư duy khoa học và với thời gian, cũng tạo ra nguyên lý pháp quyền: luật pháp, chứ không phải người thi hành luật pháp, nói tiếng nói cuối cùng trong quan hệ giữa con người với nhau. Đó là một nguyên lý mà đa số nhân loại ngày nay đều tán thành. Độc lập dân tộc và nhà nước pháp quyền gắn liền với tiếng nói dân tộc thành văn. Nhà nước của chúng ta, ngay từ khi mới thành lập đã khẳng định Quốc ngữ theo tinh thần đó.
Xét về mặt văn minh và văn hoá thì thay đổi chữ viết là một cuộc đảo lộn. Có lẽ vì thế mà các quốc gia gần ta đã không dám tuỳ tiện thay đổi chữ viết. Người Nhật đã nhập cảng chữ Nho, do đó, nhập cảng toàn bộ vốn từ đi kèm với chữ Nho và bị chính cách nhìn thế giới đó chi phối. Nhưng họ vẫn cố giữ chữ Nho vì họ không dám đảo lộn những gì họ đang có. Trung Quốc cũng không hành động khác. Nhiều trí thức vĩ đại của Trung Quốc, đặc biệt là Lỗ Tấn, từng khẩn thiết kêu gọi đồng bào họ bỏ chữ vuông mà không ai dám nghe theo. Người Hàn chế ra chữ bán ghi âm mà không quay lưng hoàn toàn với chữ Hán.
Chúng ta đã có một thời chưa làm được như thế với bậc học phổ thông vì tư tưởng thực dân và di sản của nó. Việc dùng Quốc ngữ với chúng ta là lẽ tất yếu như chúng tôi đã trình bày, nhưng không thể quên quá khứ. Đề cao quá mức hay phủ nhận sạch trơn nền văn hoá cổ đều không đúng. Không phải nền văn hoá đó không có những yếu tố không còn thích hợp với cuộc sống mới, nhưng thái độ phủ nhận sạch trơn quá khứ thì nguy hiểm: dù nó dở hay nó hay, chúng ta cũng không thể chối bỏ nó một cách dễ dàng, như thể vứt bỏ một cái áo mà ta không còn mặc nữa. Vả chăng, nó không phải là cái áo cũ mà đã là một phần trong máu thịt của mỗi chúng ta.
Tuy nhiên, dạy lại chữ Nho cho con em như các ông đồ đã dạy thì lại không làm cho học trò hiểu được chữ Nho và nền văn hoá chữ Nho với con mắt của người hiện tại. Vì khi ta chiếm dụng một ngôn ngữ, chính ngôn ngữ đó lại chi phối tư duy của chúng ta, theo qui tắc của nó. Một người học chữ Nho theo lối cũ có rất nhiều nguy cơ trở lại với cái đầu của một ông đồ. Mà con người hiện tại lại không thể là một ông đồ. Vì thế, theo thiển nghĩ của chúng tôi, nhiệm vụ của chúng ta là làm cho con em ta hiểu về sự thay đổi văn tự, chứ không phải là bắt họ học lại thứ văn tự đã bị bỏ. Hiểu thì mới thừa kế cái đáng thừa kế, vứt bỏ cái cần vứt bỏ. Hiểu trên cơ sở thừa nhận rằng, Quốc ngữ cũng đã trở thành truyền thống của chúng ta từ một thế kỷ nay. Do đó, theo ý chúng tôi thì những gì mà hôm nay chúng ta có thể làm, chỉ là hạn chế những tác động tiêu cực do việc thay đổi chữ viết gây ra, chứ không phải là làm sống lại thứ văn ngôn mà cha ông đã dùng.
Vì những lý do như trên, chúng tôi nghĩ rằng, thay vì dạy chữ Nho theo kiểu các ông đồ, chúng ta nên dạy cho học trò phổ thông tri thức tối thiểu về chữ Nho và nền văn hoá chữ Nho với chúng ta hôm nay. Mục đích của việc dạy ở đây là tạo ra ý thức thận trọng trong tư duy và dùng chữ, với thời lượng chừng 20 tiết là đủ. Nên để học phần này vào năm lớp mười, trong khuôn khổ của chương trình văn chương cổ. Theo tôi nghĩ, học phần này nên có ba nội dung:
1.   Chữ Nho, hình thức, cấu tạo, cách viết. Những chữ được đem ra minh hoạ sẽ là những chữ vẫn còn thường gặp, như chữ văn,  tự, phúc, lộc, thọ, nhân, hiếu, đức... Nên có cả phần tập viết để học sinh hình dung về cái đẹp trong thư pháp; Chỗ tương đồng và dị biệt giữa chữ Hán và chữ Nôm (chừng mươi tiết).
2.   Cách nhìn thế giới của chữ Nho. Phần này, ngoài một chút lý thuyết, cần giảng giải cho học sinh biết về một số thành ngữ, lối nói thường thấy có gốc chữ Nho mà nay ta vẫn hay dùng (chừng dăm tiết).
3.   Từ ngữ có gốc chữ Nho trong Quốc ngữ. Trong phần này, ngoài việc giới thiệu khả năng qui chiếu khác nhau của từ ngữ, cần giới thiệu một vài cách cấu tạo từ mới bằng vốn chữ Nho, cách tra từ điển từ nguyên (chừng dăm tiết).
Tôi cho rằng, với một đòi  hỏi về tri thức như thế, mọi thầy giáo, cô giáo dạy văn hiện nay đều có thể đảm đương được, nếu có hướng dẫn chi tiết, vì họ đều có học chữ Nho ở đại học. Với học sinh thì đấy là lúc họ bắt đầu làm quen với các cơ sở lý thuyết khoa học tự nhiên như đại số, hình học, lý, hoá nên việc tiếp nhận tri thức nhập môn về ký hiệu học là vừa sức. Chúng ta cũng không cần dạy nhiều vì nhiệm vụ tạo ra một tiếng Việt thành văn, đủ tin cậy để nghĩ và viết bằng tiếng mẹ đẻ (thể hiện trong những cuốn từ điển chuyên dùng), là nhiệm vụ của giới nghiên cứu, của nhà nước chứ không phải là nhiệm vụ của nhà trường phổ thông. Nhà trường chỉ tạo ra ý thức sử dụng từ điển và rèn tập kỹ năng vận dụng lời nói, không chỉ trong lĩnh vực văn chương, mà thôi.
Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để tìm ra thời gian vật chất cho việc giảng dạy một học phần như thế. Theo ý chúng tôi, nó cũng nằm trong tầm tay của chúng ta. Vì chúng tôi có cảm giác rằng, chương trình văn chương của ta rất tham. Tham là vì chúng ta bị di sản của lối học cũ chi phối. Học chữ Nho thì phải vừa uyên, vừa bác. Bác là điều kiện cho uyên và ngược lại. Vì mỗi chữ được mỗi người, mỗi thời dùng một khác. Không nhập tâm những cách dùng khác nhau đó thì không thể xướng hoạ được. Biến tướng của lối học này là lối nhồi nhét trong chương trình văn chương phổ thông hiện nay. Nhồi nhét cả những kiến thức không cần thiết. Đụng đến nhà thơ nào cũng cần dạy tiểu sử, đụng đến tác phẩm nào cũng phải dạy xuất xứ, trong khi những tri thức đó chỉ cần một hai chú thích là đủ, và không phải cứ có thầy cô thì học trò mới phát hiện được ông Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh vào năm nào, viết những tác phẩm nào, một khi họ đã biết đọc. Thậm chí, chúng ta lại đòi hỏi học sinh phải nhập tâm những tri thức đó. Tôi thấy trong đề thi của nhiều năm nay, hầu như bao giờ cũng có một câu hỏi về tiểu sử hay xuất xứ. Phải chăng, tri thức đó là cần cho hành trang vào đời của một kỹ sư tin học trong tương lai?
Thực tế là, chương trình của chúng ta cũng thừa. Thừa vì không đề ra được tiêu chí tuyển chọn tác phẩm như chúng tôi đã có dịp  phát biểu, nên số tác phẩm hay trích đoạn cần dạy quá nhiều mà số giờ giành cho việc giảng mỗi bài lại quá ít. Đã chọn văn của người này sao lại không chọn văn của người kia? Câu hỏi đó thường làm cho những người soạn sách bối rối. Lựa chọn nhiều trích đoạn quá thì không có thì giờ dạy suy nghĩ. Những câu hỏi rất căn bản như, vì sao ta có thể hiểu từ này như thế này mà không thể như thế khác, câu thơ này như thế này, chi tiết nọ như thế kia, không xuất hiện trong sách và trong bài giảng của các thày cô. Có những chi tiết mà học sinh không hiểu gì cả, như chuyện cho chữ mà Nguyễn Tuân miêu tả trong Chữ của người tử tù. Nếu chỉ biết rằng, viên quản ngục đó ham thích cái đẹp chung chung thì quá nông cạn và không sao hiểu thông điệp chủ yếu của tác phẩm văn chương đó.
Vì thế, con em ta học tiếng Việt mà không hề học cách thức dùng tiếng Việt để suy nghĩ, không học cách trình bày tư tưởng bằng tiếng mẹ đẻ. Hàng bao năm nay, khi chấm thi đại học, chúng tôi thường chỉ chấm văn chương chữ nghĩa của những người soạn sách và của các thầy giáo ở trường và ở lò luyện thi, chỉ cho điểm vở sạch chữ đẹp, cho điểm bằng cách đếm trang, chứ không mấy khi được chấm khả năng dùng tiếng mẹ đẻ trong suy nghĩ và diễn đạt của các em. Ngay cả bài thi văn xuất sắc được đăng báo Văn nghệ  năm nay cũng chưa làm cho tôi mất cảm giác đó. Tình hình này cũng tương tự như tình hình dạy các môn học khác, kể cả khoa học tự nhiên: chúng ta chỉ đòi hỏi ở các em phần kinh viện của tri thức, chứ không lấy mục đích vận dụng các tri thức đó vào cuộc sống làm tiêu chuẩn tối cao. Từ những suy nghĩ như thế, chúng tôi cho rằng, khả năng tinh giản chương trình văn chương là có thể.
Chúng tôi hiểu rằng, tri thức trang bị cho học trò phải gọn nhẹ và hữu ích. Muốn làm được như thế, thì nghiên cứu phải đi trước một bước. Về cấu tạo của chữ Nho thì Đào Duy Anh đã mô tả. Nhưng chúng ta chưa làm được gì nhiều trong việc nghiên cứu vai trò của chữ Nho đối với Việt ngữ, đối với tư duy và đối với văn chương. Hầu như những công trình Việt ngữ mà tôi được đọc cho đến nay đều nhìn tiếng Việt tách rời với chữ viết (chữ viết chỉ là công cụ ký chép thuần tuý). Cho nên, nhu cầu cải tiến Quốc ngữ để mô tả hiện trạng tiếng Việt (các loại từ, các từ ghép), sử dụng chữ viết như là một biện pháp khu biệt và sáng tạo từ mới, không được đặt ra, nói gì đến việc nhìn nhận vai trò của chữ Nho. Những công trình nghiên cứu về bước chuyển của văn chương cũng vậy. Điều  lạ lùng nhất là các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ văn học, cũng không hề đề cập đến sự thay đổi chữ viết. Dường như chúng ta luôn nghĩ rằng, chữ viết đứng ngoài tiếng nói và tư duy. Cho nên, nhìn rộng ra thì thành tựu nghiên cứu về văn hoá của chúng ta, dưới góc độ khoa học, cả với văn hoá cổ và văn hoá hiện đại, đều chưa tiến được bao lăm, so với thành tựu của nửa đầu thế kỷ trước. Trong hoàn cảnh đó, những người soạn sách phổ thông dễ trở thành những người “tự biên, tự diễn” và dễ hứng chịu búa rìu của dư luận, thay cho toàn bộ giới Việt học, như đã từng xảy ra. Đó là một khó khăn hiển nhiên.
Nhưng dù thành tựu nghiên cứu của chúng ta còn hạn chế, chúng ta vẫn phải dạy cho học trò phổ thông những hiểu biết mà chúng ta có về chữ Nho và nền văn hoá chữ Nho. Chỉ trong khi đi, chúng ta mới tìm được đường. Phía trước sẽ có những người đi tiếp là thế hệ trẻ. Giáo dục, về mặt nào đó, giống như cuộc chạy tiếp sức. Mỗi người đều phải chạy hết sức mình, trước khi trao cái gậy tiếp sức cho người chạy tiếp theo. Chỉ có như thế thì sự nghiệp giáo dục của dân tộc mới tiến lên được. Chỉ có như thế thì Việt ngữ mới trở thành công cụ hữu hiệu cho chúng ta chiếm lĩnh đỉnh cao trong tư duy về chính trị và tư tưởng, trong khoa học và kỹ thuật, cũng như trong sáng tạo  văn chương và nghệ thuật.

Đã đăng: báo Văn nghệ trẻ, 2005

Nguồn: Tác giả cung cấp

Top